http://designs.vn/tin-tuc/kien-truc-su-hanh-nghe-phai-co-tam-va-co-tam-kts-doan-duc-thanh_13582.html

Kiến trúc sư hành nghề phải có tâm và có tầm – KTS Đoàn Đức Thành

Một ngày đầu đông, ngắm nhìn Hà Nội chuyển sang màu áo mới, không khí tết cũng gần kề đâu đây lại nhớ một Hà Nội cổ của những năm nào. Mời độc giả trẻ tuần này cùng Designs.vn một chút hoải niệm về những giá trị kiến trúc cổ với KTS Đoàn Đức Thành – một trong những thế hệ KTS đầu tiên của Việt Nam.

Kiến trúc sư : Đoàn Đức Thành
Năm sinh: 1939
Khẩu hiệu, câu nói yêu thích: Kiến trúc sư hành nghề phải có tâm và có tầm.
Giải thưởng:

– Giải Nhì, Giải thưởng Kiến trúc Quốc gia – 2008, cuốn sách “Thế hệ Kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên”. Chủ biên: KTS Đoàn Đức Thành. NXB Văn hóa – Thông tin, 2008.
– Giải Bạc, Sách hay, năm 2011, của Hội Nhà Xuất bản, cuốn sách “Từ kinh đô đến thủ đô – dặm dài đất nước qua năm tháng”. Đồng tác giả: Nguyễn Huy Thắng, Nguyễn Như Mai, Nguyễn Quốc Tín, Đoàn Đức Thành. NXB Kim Đồng, 2010.

KTS Đoàn Đức Thành nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Hội Kiến trúc sư Việt Nam khóa V & khóa VI, nguyên Phó tổng biên tập các tạp chí: Kiến trúc, Kiến trúc Nhà Đẹp, Kiến trúc Miền Trung và Tây Nguyên. Dù đã nghỉ hưu nhưng lòng say mê nghệ thuật, những hoài cổ một thời trong lòng người nghệ sĩ già vẫn không đổi. Vào tuổi bát niên giai lão, người kiến trúc sư ấy lại hăng say tìm cho mình niềm đam mê sen vô tận, đam mê những giá trị mà người đời bỏ quên nơi phố phường tấp nập.

Chào bác, bác có thể chia sẻ với bạn đọc trẻ của Designs.vn về những hoạt động kiến trúc, nghệ thuật của mình trước và sau khi nghỉ hưu được không?

Tôi quê ở Nam Định, nhưng thuở nhỏ lại lớn lên và học tập ở thị trấn Trùng Khánh (Cao Bằng). Cuối năm 1955, tôi học xong cấp 2. Do hoàn cảnh gia đình nhà nghèo, tôi không có điều kiện đi xa học. Đang lúc hụt hẫng thì gặp đoàn cán bộ của Xí nghiệp mỏ thiếc Tĩnh Túc về huyện tuyển công nhân xây dựng. Giữa năm 1956 tôi được cử về Hà Nội học Trung cấp Kiến trúc. Lớp tôi học gồm 64 học sinh, là lớp học thiết kế kiến trúc đầu tiên của Nhà nước ta. Ngày ấy, chưa có trường đại học kiến trúc, nên lớp thiết kế kiến trúc của chúng tôi rất được các kiến trúc sư và họa sĩ tốt nghiệp từ Trường Mỹ thuật Đông Dương quan tâm và giảng dạy.

Ra trường cuối năm 1959, được phân công về Cục thiết kế Dân dụng, Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng). Làm việc không bao lâu thì miền Bắc xảy ra chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, đồng hành với việc ngừng thiết kế và xây dựng. Tôi thuộc diện đặc biệt, là Đảng viên trẻ được quản lý chặt chẽ sau khi cam kết không được đi nước ngoài và gia nhập quân đội để giữ bí mật quốc gia. Là số ít người trong cơ quan được phân công thiết các công trình cho lãnh tụ như nhà hầm chống bom, tên lửa ở Hà Nội. Đồng thời làm nơi sơ tán của Trung ương đề phòng khi Hà Nội bị tàn phá nặng nề. Chúng tôi còn tham gia thiết kế cơ quan TTXVN, các đài Phát thanh tiếng nói Việt Nam, các kho tàng quan trọng,… xây dựng ở trong các hang động, núi rừng trên Việt Bắc.

Ngay khi mới ra trường, tôi đã thường xuyên viết báo phổ biến kiến thức xây dựng nhà ở, trường học, nhà trẻ,.. Năm 1977, đất nước thống nhất, điều kiện thiết kế xây dựng thuận lợi hơn thì tôi được Bộ Xây dựng phân công về làm biên tập Tạp chí Xây dựng. Năm 1985, Hội Kiến trúc sư Việt Nam xin về làm Tạp chí Kiến trúc. Là một trong những người sáng lập các Tạp chí Kiến trúc Nhà Đẹp, Kiến trúc Miền Trung và Tây Nguyên.

Năm 1982, tôi học lớp sáng tác nhiếp ảnh khóa 4 của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam tổ chức, thầy dạy là các cố NSNA Võ An Ninh, Đinh Đăng Định, Đỗ Huân, Nguyễn Long, Thái Tri. Từ đó tôi luôn chụp ảnh chủ yếu về công trình kiến trúc, phong cảnh khắp miền đất nước.

Tôi luôn quan tâm đến việc giữ gìn không gian, cảnh quan kiến trúc phố cổ Hà Nội, đặc biệt là không gian hồ Hoàn Kiếm. Từ giữa thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, người ta có dự định phá đài phun nước “con cóc” ở vườn hoa trước Bắc Bộ Phủ và phá Tháp Rùa để xây dựng ở hai nơi này những biểu tượng có tính Cách mạng, tôi đã viết báo phân tích về giá trị nghệ thuật các công trình này và phản đối việc phá bỏ xây khác. Tôi là người đầu tiên viết bài lên tiếng phê phán xây dựng công trình khách sạn Hà Nôi Vàng quá to cao bên Hồ Gươm. Sau đó có gần 150 bài báo viết phê phán công trình đang xây dựng này, kết quả đã hạ thấp số tầng như hiện nay. Tòa nhà Điên lực được thiết kế cao rộng, tôi đã viết bài “Hà Nội sắp có bức tường chắn khổng lồ xấu xí” để phản đối. Đền thờ Lý Công Uẩn dự kiến xây trên nền nhà Kèn bát giác sau tượng đài Lý Công Uẩn, tôi cũng viết bài phân tích không nên xây dựng công trình tâm linh ở đây. Công trình xây dựng ở chợ “Âm phủ” 19-12, khách sạn ở Công viên Thống Nhất,…tôi đều viết bài phân tích, phê phán không nên xây dựng. Cũng may là lãnh đạo Hà Nội lắng nghe ý kiến các nhà chuyên môn nên các công trình trên cho đến nay đã không thực hiện, giữ được di tích và cảnh quan đẹp cho Thủ đô.

Sau ngày nghỉ công tác, tôi vẫn viết nhiều bài và trả lời phỏng vấn báo chí, phát thanh và truyền hình về những vấn đề nổi cộm trong kiến trúc xây dựng như Quy hoạch mở rộng thủ đô Hà Nội, xây dựng nhà ga ra ô tô ở Công viên Thống Nhất, nhà Bảo tàng Hà Nội, Bảo tàng Quốc gia, cửa ga tàu điện ngầm ở Hồ Gươm, cầu vượt qua đàn Xã Tắc, trùng tu di tích chùa Một Cột, đình Lệ Mật, v.v…

Một trải nghiêm nghề nghiệp mà bác nhớ nhất là gì?

Thời chống Mỹ, một số người trong thế hệ thanh niên chúng tôi làm nhiệm vụ thiết kế, thi công những công trình đặc biệt trong núi rừng Việt Bắc. Với chiếc xe đạp Thống Nhất cà tàng, song mỗi tháng mấy lần một mình vẫn băng qua vùng bom tên lửa của máy bay Mỹ tàn phá, đi từ mờ sáng trèo đèo lội suối hàng trăm cây số đến khuya mới tới công trình xây dựng, không quản ngại khó khăn nguy hiểm. Qua đó cũng thấy được tuổi trẻ rất nhiệt tình, đã cống hiến hết mình với Tổ quốc.

Các bạn trẻ ngày nay nói nhiều về cụm từ “Phố cổ Hà Nội” theo bác là một kiến trúc sư và cũng là một người yêu Hà Nội, bác định nghĩa thế nào về cụm từ này? Nó có phải chỉ nói trong phạm vi Hàng Đậu – Trần Quang Khải – Phùng Hưng?

Cách đây hơn 20 năm trong một chương trình Văn nghệ chủ nhật trên truyền hình và sau này trên báo tôi đã xác định: “Tam giác phố cổ có một cạnh giáp với bờ sông Hồng, đoạn từ phố Hàng Đậu đến Hàm Tử Quan. Cạnh thứ hai từ Hàng Đậu qua Phùng Hưng đến Cửa Nam và cạnh từ Cửa Nam qua Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ, Lò Sũ đến Hàm Tử Quan”.

Theo các thư tịch cổ, thời Lý kinh đô Thăng Long đã có nhiều phường, phố đan xen, những con đường, ngõ phố heo hút cùng với những nếp nhà đơn sơ, bên ngoài là một vòng thành vững chãi bao bọc. Từ đó có nhiều cửa ô tỏa ra các ngả đường. Đến đời Trần không gian đô thị ấy được phát triển hoàn chỉnh hơn, Kinh đô đã có 61 phường, nổi tiếng là chốn buôn bán sầm uất. Sang thời Hậu Lê, nhà vua cho gộp thành 36 phường. Đến thế kỷ 16, khu 36 phố phường đã rộng hơn 4 km vuông.

Ngày 1-10-1888, Hà Nội trở thành thành phố nhượng địa của Pháp, luật nhà vua không còn hiệu lực, một số nhà giàu có đã nâng ngôi nhà cao hai ba tầng. Từ khi người Pháp sang họ đã quy hoạch mở rộng Hà Nôi. Ngoài khu phố cổ, Hà Nội còn có khu phố cũ. Đó là các khu phố được kiến trúc sư Pháp quy hoạch theo ô bàn cờ kiểu châu Âu xây dựng trong thời Pháp thuộc ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm và các phố mới xung quanh thành cổ. Nhiều trại lính, bệnh viện, công sở, các công trình công cộng, trường học, biệt thự, v.v…được xây dựng theo phong cách kiến trúc Pháp, sau này thêm phong cách kiến trúc Đông Dương gần gũi với kiến trúc truyền thống Việt Nam hơn.

Trải qua những ngày tháng chiến đấu và hết mình vì nền kiến trúc nước nhà, người nghệ sỹ ấy đến khi tóc đã bạc màu vẫn luôn hăng say và hết mình với nghệ thuật.

Thưa bác, giá trị mà nó để lại là gì?

Không gian khu phố cổ hầu như biến đổi rất chậm chạp. Các tuyến phố đến nay vẫn đậm đà những nét tự nhiên ban đầu, đường phố chật hẹp đan xen nhau dày đặc. Những rẽ ngoặt quanh co, heo hút như một mê cung rất kỳ diệu. Đặc điểm chung của nhà cửa phố cổ Hà Nội là mái lợp ngói ta hình vảy cá. Nóc võng ở giữa, hai đầu có đấu hình trụ nhô cao. Các mái nhà ngăn cách nhau bởi những lá mái hình răng cưa để chống cháy lan. Tầng tầng lớp lớp nhấp nhô đã tạo nên sự mềm mại sống động và vui mắt. Hình ảnh đẹp nhất của phố cổ Hà Nội là những lá mái đơn sơ ấy. Nhiều nhà cố vươn cao, song chỉ dừng lại ở mức làm mái chồng diêm, giữa hai lớp mái là ván bưng kín hoặc là mảng tường đặc có khoét “cửa câm” mang tính trang trí, vì luật nhà vua đã cấm: “Không được trổ cửa nhìn ra đường”.

Khi người Pháp sang, Hà Nội được mở rộng, quy hoạch theo bài bản của châu Âu. Đường phố và vỉa hè rộng rãi, có trồng cây bóng mát hai bên đường thành những dãy phố dài rộng theo ô bàn cờ. Các công trình kiến trúc công cộng mang phong cách châu Âu, biệt thự có sân vườn rộng rãi với kiểu dáng kiến trúc các địa phương của Pháp, do vậy mà bộ mặt kiến trúc Hà Nội thêm phong phú và đa dạng hơn. Ngôi nhà đã cao rộng và khang trang hơn trước đây. Tuy nhiên, các công trình vẫn xây dựng dàn trải theo chiều ngang, do đó đã hài hòa với kiến trúc khu phố cổ. Cũng vì vậy, theo tôi không chỉ bảo tồn khu phố cổ mà cần bảo tồn cả khu phố cũ xây dựng từ khi người Pháp sang. Nếu biết giữ gìn và bảo tồn tốt thì khu phố cổ và khu phố cũ gắn kết với khu phố mới sau này, kiến trúc Hà Nội sẽ như một lòng chảo – giữa thấp xung quanh cao dần – rất có giá trị nghệ thuật thẩm mỹ, đáp ứng là một thành phố du lịch mang tính chất lịch sử lâu đời.

Một vấn đề khác về chất cổ của Hà Nội là những gánh hàng rong, chợ tạm…Đây được coi là một tàn tích còn xót lại của một Hà Nội xưa. Designs.vn cũng đã xem được clip phỏng vấn mà bác mà bác nói về vấn đề này. Người ta mở siêu thị, chợ lớn, các trung tâm thương mại và người ta quên dần những gánh hàng rong. Thế nhưng một xã hội hiện đại sạch đẹp cũng khó có thể tồn tại song song gánh hàng rong với những vấn đề trật tự giao thông, ô nhiễm môi trường, lấy lại những vỉa hè cho người đi bộ. Theo bác có hướng giải quyết nào cho vấn đề này như thế nào?

Nếu Hà Nội có xu hướng phát triển du lịch thì cũng tạo nên những không gian gắn với sinh hoạt truyền thống để hấp dẫn du khách. Xung quanh Hồ Gươm và một số phố cổ, phố cũ liền kề nên tạo thành phố đi bộ. Chỉ những con phố đi bộ mới hợp với những gánh hàng rong tái diễn lại cảnh sinh hoạt của Hà Nội thời xa xưa. Hà Nội đẹp sao khi có những cô gái gánh hoa bán rong, mùa thu se lạnh với những gánh cốm vòng hương sắc hấp dẫn thị giác và cả khiếu giác. Những quán nước vối, hàng nặn tò he, khu vực vẽ chân dung, viết thư pháp, bán đồ lưu niệm, sách báo, đồ chơi, nơi bán đàn sáo, trống bổi, hàng nón, v.v…nếu sắp xếp có trật tự, ngăn nắp đều rất đẹp, rất hay hấp dẫn và nên thơ.

Nhu cầu mua bán phục vụ bữa ăn hàng ngày như mớ rau, củ hành, v.v…vào các trung tâm thương mại hay siêu thị để mua thì cũng phiền phức, mất nhiều thời gian. Nên chăng tạo những khoảng trống để họp chợ tạm vào một số giờ nhất định trong buổi sáng hay buổi chiều. Đừng để trở thành chợ cóc, chợ đuổi, đuổi chỗ này chạy chỗ khác, rồi tịch thu, giành giật, gây ảnh hưởng đến mỹ quan và cản trở giao thông.

Không gian là quan trọng trong thiết kế kiến trúc. Trong thời kỳ đổi mới không gian kiến trúc cổ đang được gì và mất gì?

Qua bao năm thời bao cấp dân số không ngừng phát triển, ngôi nhà vẫn như cũ nên diện tích cho mỗi đầu người không đáp ứng nhu cầu sinh hoạt. Thời kỳ đổi mới nhân dân có thu nhập cao hơn nên cũng có nhu cầu ở thoải mái hơn. Diện tích đất của từng ngôi nhà không thay đổi, do đó nâng tầng để cải thiện chỗ ở là nhu cầu bức thiết. Nhà nước không lường trước được sự bùng phát trong cải tạo xây dựng kiến trúc nhà dân trong khu phố cổ và phố cũ. Do đó mà có thời điểm cả thành phố như một công trường xây dựng. Bộ mặt kiến trúc không còn cổ nữa, không gian kiến trúc thay đổi thiếu sự hài hòa với đường phố vốn nhỏ hẹp. Thấy rõ vấn đề này Hội Kiến trúc sư Việt Nam đề nghị Nhà nước lập Văn phòng Kiến trúc sư trưởng để tạo nên nhạc trưởng với chiếc gậy chỉ huy như dàn nhạc giao hưởng. Tiếc rằng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên không quản lý nổi.

Từ mái ngói chuyển sang mái bằng, nhà nhà thêm tầng, nội dung và hình thức kiến trúc hiện đại hơn, nét cổ mất dần từng ngày. Đến nay số nhà cổ tồn tại không là bao nhiêu. Một số các công sở vốn vài ba tầng hài hòa với không gian, cảnh quan xung quanh thì nay đã dựng lên những ngôi nhà tháp hàng chục tầng, chẳng khác nào những chiếc cọc khổng lồ cắm vào khu phố cổ, khu phố cũ. Các khoảng không gian trống “để thở” cũng nhồi nhét những khối nhà cao tầng đồ sộ tạo nên mật độ xây dựng cao đến mức độ dày đặc. Đặt vấn đề bảo tồn khu phố cổ chậm chạp và không có biện pháp quản lý. Xin phép một đằng xây dựng một nẻo. Những vi phạm quy định về chiều cao chỉ phạt cho tồn tại nên phố cổ, phố cũ đã mới cả nội dung lẫn hình thức kiến trúc. Việc dãn dân cũng chỉ đặt ra chung chung, không có giải pháp cụ thể nên dân vẫn bám vào khu phố cổ để sinh sống. Phố cổ hầu như không còn mấy cổ nữa, sự hấp dẫn đã và đang mất dần. Trước đây từ trên cao nhìn Hà Nội thấy mượt mà, thơ mộng hấp dẫn bao nhiêu thì nay cả thành phố nhấp nhô như rải sỏi đá, mất đi vẻ đẹp hài hòa vốn có. Tuy vậy, cái được của Hà Nội là đã cải thiện được tiện nghi sinh hoạt, diện tích sử dụng ngôi nhà tính theo đầu người được nâng cao đáng kể.

Ảnh hưởng của kiến trúc hiện đại phá vỡ cấu trúc cổ, vậy bác có giải pháp gì cho điều này?

Đặt vấn đề tìm giải pháp bây giờ thì quá chậm rồi. Theo tôi, trong lòng khu phố cổ và khu phố cũ không nên xây dựng thêm gì nữa. Tập trung xây dựng ở các vành đai bên ngoài, xây dựng thành những tuyến phố hiện đại, tạo nên bộ mặt kiến trúc mới hấp dẫn ngay từ vòng ngoài.

Chính quyền và các nhà thiết kế làm nên bộ mặt đô thị và rồi lại chính họ lại ngồi bàn về một thế hệ kiến trúc mới phá vỡ bộ mặt kiến trúc cổ với những giá trị văn hóa, truyền thống. Vậy ai mới là người có trách nhiệm ở đây?

Do tầm nhìn hạn hẹp, không thấu đáo, thiếu tôn trọng giá trị lịch sử trong quy hoạch đô thị, chỉ thấy cái lợi trước mắt nên một số cấp chính quyền đã buông lỏng quản lý, các chủ nhà đua nhau phá công trình vốn bé nhỏ nhưng hài hòa để xây dựng những công trình cao hơn, do đó không gian kiến trúc cổ xưa bị biến đổi dần. Trong nền kinh tế thị trường, một bộ phận không nhỏ trong giới KTS chỉ biết chiều theo ý chủ đầu tư và cấp trên. Họ chỉ biết cái lợi trước mắt, còn sau này ra sao, họ như người ngoài cuộc.

Dường như nói về kiến trúc Hà Nội là đề tài khó để có thể thấu đáo. Điều này gần như không chỉ nằm trong tay các nhà kiến trúc quy hoạch mà còn là ở các cấp lãnh đạo, chủ đầu tư. Vậy thì bác chia sẻ gì với các bạn KTS trẻ. Khi đứng giữa con đường thiết kế kiến trúc chân chính và một bên những áo lực chính quyền địa phương và chủ đầu tư?

Quy hoach đô thị của ta không ổn định, thiếu nhất quán theo thời gian hình thành và phát triển. Quy hoạch tổng thể duyệt rồi, nhưng khi làm quy hoạch chi tiết vênh với quy hoạch tổng thể. Mỗi nhiệm kỳ lãnh đạo mới lại “điều chỉnh”, thực ra là phủ nhận cái cũ và làm cái mới khác trước. Quy hoạch xây dựng còn bị các chủ đầu tư thao túng. Xây dựng khu dân cư không đồng bộ các thể loại công trình. Cơ cấu căn hộ trong chung cư không hợp lý, thiếu cơ sở khoa học.

Các KTS thế hệ đầu tiên họ biết tự trọng, nếu chủ đầu tư yêu cầu thiết kế không hợp lý thì họ từ chối không làm theo. Các KTS khác cũng không bao giờ nhảy vào cuộc. KTS trẻ cũng cần làm theo những tấm gương đó. Phải có tâm và có tầm khi hành nghề, nếu mọi người đồng lòng phân tích lẽ phải trong nghề nghiệp thì chính quyền và chủ đầu tư muốn làm khác đi thì cũng bó tay.

Được biết bác là người có duyên với sen. Những bức ảnh sen của bác với nhiều loại với những tạo hình đẹp và ý nghĩa khác nhau. Designs rất muốn bác có thể chia sẻ thú vui này và giới thiệu đôi điều về những bức ảnh đẹp với bạn đọc.

Sen hồng có hai loại là sen trăm cánh (còn gọi là sen hương) và sen quỳ. Sen hương hay trồng ở Hồ Tây, có đặc điểm là lớp cánh hoa ngoài to, bên trong có lớp cánh nhỏ, nhị rất thơm, do vậy thường hái nụ sắp nở để lấy nhị ướp chè. Sen quỳ chỉ có một lớp cánh hoa to, trồng nhiều từ bắc vào nam. Sen quỳ trồng để lấy hạt nấu chè sen. Sen trắng cũng có hai loại như thế nhưng không thơm mấy và gương sen cũng nhỏ, trồng để làm cảnh, lấy hoa trang trí. Ngoài ra chúng tôi còn phát hiện ra sen trắng trăm cánh viền hồng. Sen Phật Quan âm màu hồng bông to, lớp cánh hoa to bên ngoài, lớp nhỏ bên trong có rất nhiều cánh, nhị ít thơm, thường trồng làm cảnh ở ao trước chùa. Sen ưa nắng nóng nên ở trong nam có hoa nở quanh năm, còn ở miền bắc hoa chỉ nở mùa hè. Sau nhiều lần đi chụp ảnh sen, tôi nghiệm ra một điều là phải lội xuống đầm sen chụp ảnh mới đẹp. Phải có chân máy để dò xem nước nông hay sâu. Đôi khi phải đặt máy ảnh ổn định trên chân máy để đôi tay nhặt rác rưởi ở xung quanh cho sạch. Quan trọng là có chân máy ảnh sẽ đỡ rung và nét hơn. Sen cũng như đời người, có lúc trưởng thành, lúc rực rỡ, héo tàn. Song từ nụ, hoa, gương sen, lá tàn đều rất rất đẹp, khéo chụp ảnh không những đẹp mà còn có ý nghĩa triết lý sâu sắc.

Trong ca dao cổ có câu: “Bao giờ cho được thành đôi/ Như sen tịnh đế một chồi hai bông”. Thời điểm năm 2011, ở Việt Nam chưa ai chụp được ảnh sen tịnh đế. Nhóm chúng tôi có 3 người: Anh Trần Bích, Kim Chihoo và tôi bàn với nhau đi các đầm sen ở huyện Thuận Thành và Lương Tài (Bắc Ninh) là vùng trồng nhiều sen để tìm sen tịnh đế có thật không hay đó chỉ có trong thơ ca. Chúng tôi xuống những đầm sen rộng mấy hecta, phân công nhau đi rà khắp không bỏ qua chỗ nào. May quá đến chiều ngày thứ hai thì thấy được hai bông tịnh đế. Mùa hè năm 2012 công bố tìm thấy sen tịnh đế, cũng từ đấy giới nhiếp ảnh bắt đầu săn lùng và đã tìm nhiều sen tịnh đế. Tháng 4 năm nay, nhóm nhiếp ảnh Đoàn Đức Chính, Võ Thành Vinh và tôi lần đầu tiên phát hiện sen tịnh đế màu trắng ở đầm sen trước chùa Sư Nữ ở Nghệ An.

Để có bức ảnh đẹp chúng tôi phải ngâm mình dưới nước trong nhiều giờ liền, nhiều nơi nước sâu tới cổ, thường xuyên bị đỉa cắn. Tuy vậy cũng rất say, có hôm xuống nước từ sớm, chụp quên cả ăn trưa, đến 2 h chiều mới lên bờ nghỉ ăn cơm. Tôi đã có lần bước hụt vào chỗ sâu làm rơi cả máy ảnh xuống nước, vẫn còn ít hơn anh Trần Bích làm rơi xuống nước những 2 chiếc máy ảnh. Máy ảnh đã ngấm nước chập điện chỉ có vứt bỏ, không thể dùng được nữa.

Một số tác phẩm sen do KTS Đoàn Đức Thành chụp:

Sen trăm cánh Hồ Tây, Hà Nội

Sen Phật Quan Âm Đông Mỹ, Hà Nội

Sen trăm cánh Hồ Tây, Hà Nội

Sen tịnh đế Quảng Ninh

Sen tịnh đế ở trước chùa Sư Nữ, Vinh, Nghệ An

Theo Bác, những vấp váp mà người KTS trẻ thường phải làm khi mới hành nghề là gì?

Khi mới vào nghề thường chưa có kinh nghiệm, cần phải tập sự làm quen dần với nghề dưới sự giúp đỡ của đồng nghiệp đi trước. Khi đã vững vàng mới đứng ra thiết kế độc lập thì sẽ hạn chế vấp váp.

Vậy hành trang người KTS trẻ cần gì?

Với kiến thức được đào tạo trong nhà trường mới chỉ là bước đầu, muốn giỏi cần phải nghiên cứu học tập thêm trong sách vở và các tác phẩm của đồng nghiệp ở trong nước và thế giới. KTS trẻ cần tự tìm ra hướng đi mới sao cho tác phẩm thân thiện, hòa hợp với môi trường tự nhiên mà thế giới đang hướng tới.

Và kỳ vọng của thế hệ đi trước với lớp KTS trẻ ngày nay là gì?

Tôi tin tưởng ở kiến thức và trình độ KTS trẻ ngày nay, vì họ được tiếp cận nhiều với nền kiến trúc hiện đại thế giới. Một số KTS trẻ đã tìm ra hướng đi đúng với xu thế kiến trúc tương lai. Trước đây nhiều KTS trẻ đã thắng trong những cuộc thi ý tưởng thiết kế kiến trúc. Song những năm qua bằng những tác phẩm đã xây dựng cũng được các KTS thế giới đánh giá cao, giành được những giải thưởng lớn.

Thật thú vị khi được chia sẻ cùng bác về một Hà Nội cổ và được xem thưởng những bức ảnh sen đầy tâm huyết của bác. Hà Nội dường như đang chuyển mình, thay lớp áo mới và những người kiến trúc sư vẫn ngày đêm miệt mài tân trang cho bộ cánh ấy. Nó sẽ còn phải lột bỏ nhiều lần những lớp vỏ xấu xí để dần hoàn thiện mình trong tương lai. Hy vọng với những chia sẻ tâm huyết của người KTS già luôn hướng về mình đến những giá trị bản sắc dân tộc sẽ là một lời động viên, nhắc nhở thế hệ sau giữ gìn những giá trị cha ông để lại.

Desgns rất cảm ơn bác và chúc bác luôn tràn đầy sức khỏe và nhiệt huyết trên con đường nghệ thuật của mình./.

Phương Chi – Designs.vn

Advertisements