http://tapchikientruc.com.vn/chuyen-muc/lich-su-kien-truc/717-65-nam-nhin-lai-hoi-kts-viet-nam-voi-nhung-cong-trinh-dau-an-qua-nam-thang.html?tmpl=component&print=1&page=
65 NĂM NHÌN LẠI – HỘI KIẾN TRÚC SƯ VIỆT NAM – NHỮNG CÔNG TRÌNH DẤU ẤN QUA NĂM THÁNG

KTS Đoàn Đức Thành

Năm 1948, công cuộc trường kỳ kháng chiến đã tiến hành được hơn một năm. Ở Việt Bắc, quân ta chiến thắng giòn giã trên các mặt trận. Chính phủ chủ trương tổ chức đại hội thành lập các hội: Văn hoá Việt Nam, Văn nghệ Việt Nam và các đoàn: Kiến trúc sư (KTS), Mỹ thuật, Âm nhạc, Sân khấu.
Đoàn KTS Việt Nam – tức Hội Kiến trúc sư Việt Nam ngày nay – có vinh dự được tổ chức hội nghị thành lập đầu tiên tại Việt Bắc.
Ngay sau Tết Mậu Tý một tháng, vào trung tuần tháng ba năm 1948, dưới nắng chiều bên đồi cọ ở Ấm Thượng – Phú Thọ, hoạ sĩ Tô Ngọc Vân với cương vị Uỷ viên Ban Chấp hành lâm thời Hội Văn nghệ Việt Nam, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (Thao Trường) phóng viên báo Văn Nghệ đã cùng các KTS ở Liên khu X: Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Nghi, Võ Đức Diên bàn về Hội nghị KTS Toàn quốc, thảo luận về Đại hội, về hoạt động nghề,… …


Ở Liên khu I, KTS Hoàng Như Tiếp quan tâm nhiều đến giới nghề, ông thường xuyên gặp gỡ lãnh đạo Bộ Giao thông – Công chính, tiền thân của Bộ Xây dựng ngày nay để bàn về hoạt động của giới nghề. Ở Liên khu III, KTS Trần Hữu Tiềm liên lạc thường xuyên với Bộ trưởng Trần Đăng Khoa và được biết Bác Hồ chỉ thị: trong hoàn cảnh nào cũng phải tập hợp anh em KTS, tổ chức thành một đoàn thể vững mạnh để đóng góp cho kháng chiến và kiến thiết nước nhà. KTS Trần Hữu Tiềm đã tìm mọi cách để liên lạc được với hơn một chục KTS đang sống rải rác khắp nơi: Nguyễn Ngọc Chân và Đoàn Văn Minh ở Liên khu IV; Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp và Phạm Quang Bình ở Liên khu I; Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Nghi, Võ Đức Diên, Ngô Huy Quỳnh ở Liên khu X. ..

GIAI ĐOẠN KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP
Hội nghị thành lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam
Ngày họp đã được ấn định. Đi đường vất vả nhất là ba KTS ở Liên khu IV, Liên khu III. Các ông phải đi bộ mấy trăm cây số, vừa đi vừa hỏi thăm đường, tránh vòng vây địch, nhiều hôm ngày nghỉ, đêm đi vì phải qua vùng tề.
Làng Thản Sơn, Xã Liễn Sơn, Lập Thạch Vĩnh Phúc – Nơi thành lập Đoàn Kiến trúc sư Việt Nam (27/4/1948)
Sáng ngày 21-4-1948, ba KTS Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Ngọc Chân, Đoàn Văn Minh đặt chân đến làng Thản Sơn – thuộc xã Chiến Thắng, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên (nay là xã Liễn Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc). Hai hôm sau có thêm các KTS Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Võ Đức Diên, Tạ Mỹ Duật, Phạm Quang Bình…
Sáng ngày 24-4-1948, khai mạc Hội nghị KTS Toàn quốc. Đến dự với 8 KTS có lãnh đạo Bộ Giao thông Công chính, đại diện Ban Chấp hành lâm thời Hội Văn nghệ Việt Nam và chính quyền địa phương. Bộ trưởng – kỹ sư Trần Đăng Khoa đọc diễn văn khai mạc và đọc thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Hội nghị KTS. Trong mấy ngày làm việc, các KTS đã thảo luận và nghiên cứu lời dạy của Bác trong thư gửi giới nghề – Đó là ngọn đuốc soi đường cho KTS vươn lên phục vụ đất nước. Đại hội cũng đồng thời thảo luận kế hoạch và chương trình làm việc của các phòng kiến trúc ở các liên khu vừa được Bộ thành lập.
Sáng ngày 27-4-1948, Hội nghị chính thức thành lập Đoàn KTS Việt Nam. Ra mắt Ban Chấp hành đầu tiên gồm ba KTS: Tổng Thư ký: Hoàng Như Tiếp, Phó Tổng Thư ký: Trần Hữu Tiềm, Uỷ viên: Tạ Mỹ Duật. Sau Hội nghị, từng tốp KTS lại toả về các địa phương hoạt động nghề nghiệp trên nhiều lĩnh vực song song với các hoạt động của các hội văn hoá nghệ thuật khác.
Tại Hội nghị Thản Sơn, các KTS thế hệ đầu tiên đã tổ chức thành Phòng Kiến trúc ở các Liên khu để lập những đề án kiến trúc xây dựng đất nước với hai nhiệm vụ chính là:
1. Nghiên cứu và thiết lập kiến trúc để kiến thiết thôn quê và thành thị.
2. Tìm phương hướng để thực hiện dần dần công cuộc cải thiện đời sống nhân dân về phương diện kiến trúc khắp các thôn quê.
Tuy mỗi phòng chỉ có vài ba KTS và một số hoạ viên, song đây là tổ chức thiết kế kiến trúc ở địa phương đầu tiên cùng thời gian ra đời với Đoàn KTS Việt Nam.
Một hoạt động của giới KTS ngay sau Hội nghị thành lập (1948) được nhân dân hoan nghênh là cuộc triển lãm về kiến trúc ở Ấm Thượng (huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ) lúc ấy được coi như Thủ đô của văn hóa kháng chiến. Các KTS đã trưng bày những mẫu nhà ở cho các vùng đồng bằng, trung du, miền núi, các phương án thiết kế nhà câu lạc bộ, nhà văn hoá, hội trường, lớp học bình dân học vụ, trạm xá xã, trụ sở uỷ ban hành chính kháng chiến các cấp… được khắc gỗ để in nhiều bản phát cho các địa phương. Tại triển lãm cũng có các công trình để xây dựng đô thị sau khi kháng chiến thắng lợi. Nhiều người chú ý đến phương án Đài Độc lập của các KTS Tạ Mỹ Duật, Ngô Huy Quỳnh, Nguyễn Nghi. Triển lãm về kiến trúc đã là nguồn động viên để quân và dân ta chiến đấu anh dũng trên các mặt trận.
Từ những năm 1950, khi Vụ Kiến trúc còn đang ở Thái Nguyên, Tuyên Quang, các KTS đã nghiên cứu và trình Bộ đề án KTS phục vụ kháng chiến và sau khi kháng chiến thành công; tổ chức những chuyến đi dài ngày lên Bắc Cạn, Cao Bằng ghi chép tìm hiểu nhà sàn các dân tộc Tày, Nùng, nghiên cứu cải tiến để nhà ở của đồng bào hợp vệ sinh, thích hợp với đời sống mới. Trong sáng tác, các KTS lấy phê bình kiến trúc làm trọng, do vậy mà luôn tổng kết, góp ý để phát triển nghề nghiệp. Ngày ấy, nhiều công trình như Khu Giao tế Trung ương ở Thái Nguyên, Câu lạc bộ Văn hoá ở Liên khu Việt Bắc, tuy đáp ứng với yêu cầu sử dụng nhưng lại cầu kỳ, trang trí rườm rà, nặng về hình thức nên gây lãng phí tiền của nhân dân đã được các KTS phê bình rút kinh nghiệm.
Công tác đào tạo KTS: Trong núi rừng Việt Bắc, các KTS ở Vụ Kiến trúc đã tập trung những sinh viên đang học dở dang ở Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương làm đồ án tốt nghiệp KTS để sau này có điều kiện phát huy năng lực. Các ông Dương Hy Chấn, Đàm Trung Lãng, Đàm Trung Phường, Vương Quốc Mỹ đã được bảo vệ đồ án và Bộ Giao thông – Công chính xếp ngạch KTS vào thời kỳ này (1952).
Tháng 6-1950, theo đề nghị của Đoàn KTS Việt Nam: cần tập trung lực lượng sáng tác kiến trúc lớn mạnh để đáp ứng với yêu cầu mới, Bộ Giao thông – Công chính đã ra Quyết định thành lập Vụ Kiến trúc, cơ sở đóng ở Đại Từ – Thái Nguyên. Đây là tổ chức thiết kế đầu tiên ở Trung ương. KTS, hoạ viên, nhân viên ở Phòng Kiến trúc các Liên khu được tập trung về Vụ, gần 50 người, trong đó có 10 KTS. Ban Giám đốc Vụ có KTS Nguyễn Văn Ninh và KTS Nguyễn Cao Luyện, ngoài công việc chuyên môn còn lo đời sống và sinh hoạt hàng ngày – làm lán trại, đào hầm trú ẩn, tăng gia sản xuất. Trong những năm tháng gian khổ ấy, các KTS đã quen với áo chàm, chân đất, ngày hai bữa cháo bẹ với rau tàu bay; da lúc nào cũng vàng do sốt rét kinh niên. Dù gian khổ, dù trường kỳ kháng chiến, nhưng được trở lại với nghề sáng tác – thế đã là niềm sung sướng, niềm vui của những KTS cách mạng.
Cuộc sống mới yêu cầu những loại hình kiến trúc mới như hội trường, trụ sở ủy ban, lớp bình dân học vụ, nhà triển lãm, khu giao tế, nhà thông tin… vật liệu chủ yếu bằng tre, gỗ, nứa, lá, khai thác tại chỗ. Các KTS đã sáng tác đáp ứng với nội dung sử dụng, tạo nên những hình thức mới, đường nét kiến trúc giản dị, ẩn mình trong rừng cây Việt Bắc, cấu tạo theo kỹ thuật truyền thống được gia công kỹ lưỡng, phục vụ đắc lực cho nhiều yêu cầu hoạt động của chính quyền non trẻ, củng cố thêm niềm tin đối với quần chúng nhân dân. Đặc biệt, quần thể công trình kiến trúc khu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đã gây tiếng vang lớn.
Lễ đài Độc lập trên Quảng trường Ba Đình – Hà Nội, 1945, KTS Ngô Huy Quỳnh

Nhà nghỉ của Đại biểu Đại hội Đảng toàn quốc Lần thứ II, KTS Hoàng Như Tiếp

Doanh trại quân đội, KTS Hoàng Linh
Lễ đài Ba Đình, 1955, KTS Nguyễn Văn Ninh
Lễ đài Ba Đình, 1960, KTS Nguyễn Văn Ninh

HOÀ BÌNH LẬP LẠI
Hội nghị KTS Toàn quốc lần II (1957)
Hiệp định Geneve 1954 lập lại hòa bình ở Việt Nam, đất nước bị chia cắt thành hai miền, tạo những bối cảnh kinh tế xã hội khác nhau đối với hoạt động kiến trúc.
Sau ngày Giải phóng Thủ đô, các KTS ở Vụ Kiến trúc trở thành nòng cốt ở Cục thiết kế Dân dụng, Cục Đô thị – Nông thôn thuộc Bộ Thuỷ Lợi – Kiến trúc, sau này là Bộ Kiến trúc, trở thành hạt nhân sáng tác những đồ án quy hoạch, những tác phẩm kiến trúc sáng giá giữa thế kỷ XX.
Thủ đô Hà Nội tưng bừng đón đoàn quân chiến thắng trở về, việc xây dựng công trình phục vụ đại lễ tại Quảng trường Ba Đình (nơi 9 năm trước từng có Lễ đài Độc lập) được giao cho KTS Nguyễn Văn Ninh. Trong thời gian rất ngắn, với vật liệu chủ yếu bằng gỗ, hai công trình Lễ đài và Đài Liệt sĩ đã được tạo dựng theo đường nét kiến trúc dân tộc, bề thế và hoành tráng. Cũng với tinh thần phải làm gấp rút cho những hoạt động của Thủ đô mới giải phóng, một nhà hát và sân khấu ngoài trời cũng bằng gỗ đã nhanh chóng được xây dựng đủ chỗ cho 3000 người, đó là Nhà hát Nhân dân theo thiết kế của KTS Nguyễn Cao Luyện.
KTS Huỳnh Tấn Phát là Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Chủ nhiệm Uỷ ban Xây dựng cơ bản Nhà nước, Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam…
Nhiều KTS là đại biểu của nhân dân các địa phương tham gia vào Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà: Huỳnh Tấn Phát (các khoá I, II, III, VI, VII, VIII), Nguyễn Cao Luyện (các khoá II, III, IV, V), Hoàng Linh (khoá I), Nguyễn Nghi (khóa II), Tạ Mỹ Duật (khoá III)…
Sau ngày Giải phóng Thủ đô, đáp ứng với yêu cầu kế hoạch phục hồi kinh tế, trong điều kiện thiếu thốn về nguyên vật liệu xây dựng, các KTS đã thiết kế nhiều công trình phục vụ dân sinh, công trình công cộng bằng tre gỗ với phương châm “nhanh nhiều tốt rẻ” đạt hiệu quả cao như khu nhà ở bằng gỗ 2 tầng ở bờ sông, An Dương. Nhà 1-2 tầng sàn mái bằng gạch cuốn không bê tông cốt thép, mái ngói vì kèo… cũng được nghiên cứu áp dụng
Năm 1956, Trường đại học Bách Khoa thành lập tại Hà Nội, ngay từ khoá đầu tiên đã chiêu sinh một lớp KTS với 26 sinh viên. Nhưng chưa đủ điều kiện về cơ sở vật chất và giáo viên giảng dạy nên học được một học kỳ phải chuyển đổi nội dung trở về ngành xây dựng.
Ngoài ra, cũng phải kể đến sự đóng góp của các KTS trên cương vị lãnh đạo các cơ quan chuyên môn ngành kiến trúc – xây dựng: hai KTS Nguyễn Cao Luyện và Vương Quốc Mỹ ở cương vị Thứ trưởng Bộ Kiến trúc; các KTS Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Ngọc Chân ở cương vị lãnh đạo Cục thiết kế Dân dụng – Bộ Kiến trúc; các KTS Hoàng Như Tiếp, Ngô Huy Quỳnh, Đàm Trung Phường ở cương vị lãnh đạo Cục Đô thị và Nông thôn – Bộ Kiến trúc (KTS Ngô Huy Quỳnh còn là Uỷ viên Uỷ ban Kiến thiết Cơ bản Nhà nước); KTS Dương Hy Chấn, Viện trưởng Viện Công nghiệp, Bộ Xây dựng; KTS Tạ Mỹ Duật, Phó Giám đốc kiêm Viện trưởng Viện Quy hoạch Hà Nội; KTS Nguyễn Ngọc Diệm, Phó Giám đốc Công trình Thị chính….
Hội nghị Kiến trúc sư lần thứ II, ngày 26,27-4-1957

Ngày 26, 27-4-1957 (đúng 9 năm sau Hội nghị Thản Sơn) giới KTS tổ chức Hội nghị toàn quốc lần thứ II, tại thư viện Quốc gia, Hà Nội, với sự có mặt 21 hội viên. Hội nghị đã thảo luận hai chủ đề quan trọng: Tình hình hoạt động trong 10 năm qua và nhiệm vụ đấu tranh cho một nền kiến trúc dân tộc. KTS Hoàng Linh được bầu làm Tổng Thư ký, hai KTS Hoàng Như Tiếp và Trần Hữu Tiềm làm Phó Tổng Thư ký, 4 Uỷ viên Ban Chấp hành là các KTS: Nguyễn Ngọc Diệm, Nguyễn Cao Luyện, Ngô Huy Quỳnh, Khổng Toán. Sau này, Ban Chấp hành bổ sung thêm các KTS Vương Quốc Mỹ, Bùi Văn Các (KS), Nguyễn Trực Luyện, Đặng Tố Tuấn, Cao Xuân Hưởng, Trịnh Hồng Triển, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Phạm Văn Mộc.
Năm 1958, với những hoạt động trên trường quốc tế, Đoàn KTS Việt Nam trở thành thành viên của Hội liên hiệp KTS Quốc tế (UIA).
Giai đoạn sau đó, các KTS đã thiết kế nhiều công trình với nội dung và hình thức mới, thể hiện đúng kiến trúc gạch, giá trị sử dụng lâu dài. KTS Nguyễn Văn Ninh đã được Bác Hồ trực tiếp giao nhiệm vụ thiết kế ngôi nhà sàn bằng gỗ làm nơi ở và làm việc của Bác. Công trình giản dị như chính cuộc đời của Bác nay đã trở thành kỷ vật thiêng liêng về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.
Năm 1960, Nhà nước chủ trương xây Lễ đài Ba Đình bằng gạch kiên cố hơn, KTS Nguyễn Văn Ninh thiết kế theo tinh thần lễ đài gỗ trước đây, nhưng thể hiện đúng bản chất của vật liệu gạch và bê tông, hiện đại hơn nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc truyền thống.
Cuối những năm 1950, đầu những năm 1960 cho tới ngày đất nước thống nhất, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến hành ở miền Bắc đòi hỏi những cố gắng lớn lao để xây dựng một hệ thống hạ tầng cho xã hội mới. Các KTS đã thiết kế nhiều trụ sở cơ quan làm việc, đầu tiên là Trụ sở Bộ Kiến trúc ở Vân Hồ do KTS Nguyễn Ngọc Chân thực hiện. Công trình có hình khối chắc, khỏe, đánh dấu bước phát triển mới của khu vực phía Nam Hà Nội.
Công trình có kiến trúc gây ấn tượng vào thời kỳ này là Trụ sở Tổng cục Thống kê do KTS Đoàn Văn Minh thiết kế: Công trình có vị trí đẹp góc phố Hoàng Diệu và Hoàng Văn Thụ, được tác giả khai thác khéo léo với mặt nhà cong như để ôm lấy một quảng trường trong tương lai. Tầng một là tầng đế vững chắc cho các tầng trên với các trụ giả suốt ba tầng tạo vẻ hoành tráng theo phong cách Kiến trúc Cổ điển (phương Tây).
Cũng ở khu Vân Hồ, nằm không xa trụ sở Bộ Kiến trúc còn có tòa nhà Trụ sở Liên cơ quan của Hà Nội do KTS Nguyễn Ngọc Ngoạn thiết kế, tạo được một hình ảnh kiến trúc bề thế và nhẹ nhõm. Trụ sở Ủy ban Hành chính tỉnh Nghĩa Lộ (cũ) được KTS Nguyễn Cao Luyện khai thác bộ mái cong của dân tộc Thái đen ở phòng họp hai đầu hồi, công trình đã tạo nên sự gần gũi với nhân dân địa phương.
Kiến trúc trường học cũng là đòi hỏi lớn vào thời gian này. Gây ấn tượng mạnh về kiến trúc trường học thời kỳ này phải kể đến công trình Trường đại học Thủy lợi, một quần thể kiến trúc lớn trên một khu đất rộng, tác giả là KTS Đoàn Văn Minh. Mặt chính dàn ra cả một đoạn phố, chính giữa được nhấn mạnh bằng một khối cao, gắn bó chặt chẽ với các khối bên theo một tỷ lệ và nhịp điệu hài hòa.
Nằm trên một không gian bề thế về phía Tây của Thủ đô, kiến trúc Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc (do KTS Nguyễn Ngọc Chân thiết kế), với trung tâm là khối nhà Hội trường đặt trước không gian quảng trường ấm cúng, gây được ấn tượng tốt bởi tính trang nghiêm, ngôn ngữ kiến trúc trong sáng.
Đóng góp cho thể loại kiến trúc trường học còn phải kể đến công trình của Trường trung cấp Thương nghiệp – sáng tác KTS Tạ Mỹ Duật với nhiều nét nhẹ nhàng, thanh thoát có phong cách mới mẻ.
Kiến trúc các công trình công cộng xây dựng vào thời kỳ này được xem là đóng góp vô cùng quan trọng của các KTS thế hệ đầu của nền kiến trúc mới Việt Nam. Có ý nghĩa lớn về chính trị và xã hội phải kể đến công trình Hội trường Ba Đình được sử dụng làm nơi họp Quốc hội và các đại hội lớn của Đảng và Nhà nước, trong lúc chưa xây dựng được trụ sở chính thức của Quốc hội. Các tác giả là KTS Trần Hữu Tiềm và KTS Nguyễn Cao Luyện (khi đó là Thứ trưởng Bộ Kiến trúc – đóng vai trò chỉ đạo, định hướng). Việc xác định địa điểm xây dựng dựa theo phác thảo nhanh về Quy hoạch khu Ba Đình của KTS Ngô Huy Quỳnh (với ý tưởng gắn kết hội trường với trụ sở của các bộ kề bên). Vào lúc mà điều kiện đầu tư xây dựng rất hạn hẹp, phải làm nhanh để sớm đi vào hoạt động, các tác giả đã phải vượt qua nhiều khó khăn để làm nên một kiến trúc có quy mô khá lớn vào lúc đó..
Một tác phẩm kiến trúc công cộng khác được đánh giá cao vào thời kỳ này là Bảo tàng Việt Bắc ở Thái Nguyên do KTS tài hoa Hoàng Như Tiếp thiết kế. Công trình có diện tích tới 2000 m2, được xây dựng trên một đỉnh đồi, với 5 khối trưng bày được liên kết khéo léo bằng hành lang và tiền sảnh, có những sân trong làm vườn cảnh rất sinh động. Tác phẩm thành công trong sự kết hợp hài hòa giữa tính hiện đại và tinh thần dân tộc.
Cùng với những đóng góp về kiến trúc công trình, về mặt quy hoạch đô thị, các KTS lớp đầu tiên cũng có những đóng góp không nhỏ. Được chuyên gia các nước bạn trong khối XHCN giúp đỡ, việc lập quy hoạch các đô thị được triển khai mạnh, trước tiên là Thủ đô Hà Nội. KTS Ngô Huy Quỳnh đã có nhiều năm học tập ở Liên Xô (cũ), nay cùng với các chuyên gia Liên Xô tạo bước khởi đầu về nghiên cứu quy hoạch của đô thị quan trọng nhất của cả nước này. Sau Thủ đô, nhiều thành phố công nghiệp mới cũng đã được làm quy hoạch như các thành phố Thái Nguyên, Việt Trì, Vinh… với công sức đóng góp của các KTS: Đàm Trung Phường, Khổng Toán.
Ở cương vị lãnh đạo cơ quan chuyên môn quy hoạch đô thị, KTS Hoàng Như Tiếp dành tâm huyết cho công việc này – không chỉ ở chuyên môn cụ thể mà quan trọng hơn cả là tầm nhìn chiến lược đối với ngành khoa học mới mẻ này. Cũng như vậy, KTS Tạ Mỹ Duật khi nhận nhiệm vụ lãnh đạo cơ quan quy hoạch của Hà Nội cũng đã có nhiều đóng góp lớn lao trong việc triển khai công việc này trên địa bàn Thủ đô. Những bản phác thảo quy hoạch cho các đô thị nêu trên đã có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo và quản lý các hoạt động xây dựng tại các đô thị trong giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Rất nhiều khu công nghiệp đã hình thành theo quy hoạch, kèm theo đó là hệ thống giao thông, cầu cống, các hệ thống kỹ thuật cung cấp điện, cấp nước và thoát nước cho các khu đô thị mới phát triển. Nhiều khu dân cư được chỉnh trang có môi trường sống tốt hơn cùng với việc phát triển hệ thống hạ tầng xã hội về văn hóa, giáo dục, thương nghiệp, y tế…
Hồ Chủ Tịch xét duyệt Quy hoạch thủ đô Hà Nội, 1959

Năm 1960, KTS Nguyễn Cao Luyện, Thứ trưởng Bộ Kiến trúc và KTS Nguyễn Nghi sang Trường Đại học Thanh Hoa (Bắc Kinh) và Đồng Tế (Thượng Hải), hai cơ sở đào tạo KTS ở Trung Quốc để khảo sát, nghiên cứu, tìm hiểu về chương trình đào tạo, kinh nghiệm giảng dạy để chuẩn bị mở trường tại Việt Nam.
Năm 1961, Bộ Kiến trúc được Chính phủ cho phép mở Lớp đào tạo KTS, KTS Nguyễn Cao Luyện nhận vai trò Trưởng ban, KTS Nguyễn Nghi làm Phó ban, phụ trách giáo vụ. Một số KTS, hoạ sĩ trực tiếp giảng dạy từ khoá đầu như Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Nghi, Nguyễn Văn Ninh, Đoàn Văn Minh, Nguyễn Ngọc Chân, Trần Hữu Tiềm, Tạ Mỹ Duật, Đoàn Ngọ, Khổng Toán, Vương Quốc Mỹ, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đức Nùng, Lương Xuân Nhị,…
Năm 1969, Chính phủ ra quyết định thành lập Trường Đại học Kiến trúc trên cơ sở Khoa Kiến trúc Đô thị tách ra từ Trường đại học Xây dựng. PTS.KTS Vương Quốc Mỹ được đề bạt làm Hiệu trưởng, KTS Đoàn Văn Minh làm Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc. Năm 1972, KTS Dương Hy Chấn được đề bạt làm Hiệu trưởng thay KTS Vương Quốc Mỹ giữ cương vị Thứ trưởng Bộ Kiến trúc, KTS Khổng Toán làm Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc thay cho KTS Đoàn Văn Minh nghỉ hưu.
Nhu cầu phát triển nhanh nhà ở cho cán bộ và nhân dân đòi hỏi việc xây dựng những khu ở tập trung tại các đô thị lớn Hà Nội, Hải Phòng, Vinh… Các KTS ở Cục Đô thị – Nông thôn với sự giúp đỡ của nước bạn đã lập quy hoạch các khu ở theo cấu trúc quy hoạch tiểu khu, tạo cơ sở cho việc hình thành các khu ở mới như Kim Liên, Trung Tự, Giảng Võ ở Hà Nội, An Dương ở Hải Phòng, Quang Trung ở Vinh. … Các KTS đã nghiên cứu áp dụng những tiến bộ kỹ thuật xây dựng tiên tiến trên thế giới như tấm tường novoa, lắp ghép tấm lớn…. Quy hoạch và kiến trúc các khu ở mới đã thể hiện mối quan tâm của xã hội, trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc xây dựng phải hết sức tiết kiệm nhưng các KTS đã hết sức cố gắng để kiến trúc “đẹp nhất trong điều kiện có thể”. Hướng vào việc xây dựng kiểu công nghiệp hóa, nhà ở được thiết kế cho kỹ thuật nhà lắp ghép đã vượt qua nhiều khó khăn, tạo dựng nhiều khu nhà ở tập thể khang trang cho đông đảo người dân lao động ở các đô thị.
Các KTS sang thăm Trung Quốc, năm 1962, từ trái sang: KTS Nguyễn Cao Luyện (thứ 2), Hoàng Như Tiếp (thứ 3), Nguyễn Nghi (thứ 5), Lê Lập (thứ 6), Nguyễn Ngọc Chân (đứng), Lê Quang Hải (ngoài cùng). (Ảnh tư liệu Gia đinh KTS Nguyễn Cao Luyện)

Miền Bắc vừa qua giai đoạn khôi phục kinh tế, bước sang kế hoạch xây dựng 5 năm lần thứ nhất thì cũng là lúc đế quốc Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 5-8-1964 và leo thang gây chiến tranh phá hoại miền Bắc. Phần lớn thành quả thực hiện trong 10 năm hoà bình và trước đó đã bị bom đạn phá huỷ. KTS miền Bắc một lần nữa đi tìm loại hình kiến trúc mới để bảo vệ thành quả cách mạng, chống lại các loại bom đạn phá huỷ. Đó là loại “nhà hầm” để Bác Hồ, Bộ Chính trị ở và làm việc trong lúc máy bay bắn phá; là các cơ sở làm việc của Đảng và Nhà nước sơ tán ở trong các rừng sâu thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc; là hàng chục đài phát thanh, cơ quan thông tấn, các kho tàng xây dựng trong các hang động cao đến 5-7 tầng… KTS Nguyễn Ngọc Chân tuổi ngót 60 vẫn vượt qua bom đạn đến những công trường, chủ trì thiết kế và theo dõi thi công những công trình tuyệt mật ấy .
Đánh dấu chiến công của quân và dân Nam Định bắn rơi nhiều “thần sấm”, “con ma” của không lực Hoa Kỳ, KTS Nguyễn Cao Luyện có một tác phẩm kiến trúc rất độc đáo: công trình Bảo tàng Cổ vật, với công trình này, dường như tư duy sáng tạo của KTS có phần “đi trước thời gian” nên đã không được chấp nhận ngay. Kiến trúc này được xem là thuộc “phong cách biểu hiện” mà thế giới đã làm nhiều nhưng ở nước ta mới có lần đầu. Tinh thần đổi mới phong cách kiến trúc của kiến trúc sư lão thành đã là tấm gương để nhiều KTS trẻ học tập.
Sau khi Bác Hồ qua đời, Đảng và Chính phủ quyết định xây dựng Lăng Bác. Việc thiết kế công trình Lăng Bác Hồ được các chuyên gia Liên Xô (cũ) giúp đỡ, có sự phối hợp của các KTS thế hệ đầu tiên trong quá trình phác thảo tìm ý và hoàn thiện, đó là các KTS Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Văn Ninh, Hoàng Như Tiếp, Vương Quốc Mỹ,…Các KTS trẻ đã phác thảo và phối hợp với các KTS lão thành hoàn chỉnh các phương án thiết kế Lăng Bác. KTS Nguyễn Ngọc Chân là người chủ trì về phía Việt Nam, ông đã thiết kế phương án Lăng theo gợi ý của Bộ Chính trị, kiên trì thuyết phục các chuyên gia Liên Xô thiết kế kỹ thuật theo hướng đó – đây cũng là phương án được xây dựng sau này.
Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng là đề tài cho đông đảo KTS trẻ tham gia, nhiều phương án có nội dung phong phú đa dạng được dư luận quan tâm.
Từ giữa thập niên 60 của thế kỷ XX, lực lượng KTS trẻ được đào tạo ở Trung Quốc, Liên Xô, các nước XHCN và trong nước bổ sung cho đội ngũ sáng tác ngày một đông. Một số công trình tiêu biểu: Cung Thiếu nhi Hà Nội (1970) – KTS Lê Văn Lân; Khu nhà ở Ngoại giao đoàn đợt 1 (1970) – nhóm KTS Nguyễn Trực Luyện, Nguyễn Kim, Nguyễn Văn Oanh; Khách sạn Công đoàn, Bãi Cháy, Quảng Ninh (1970) – KTS Trần Gia Khiêm; Khách sạn Hải Âu, Đồ Sơn, Hải Phòng (1970) – KTS Trần Gia Khiêm; Nhà khách Chính phủ (1973) – KTS Diêu Công Tuấn; Khách sạn Thái Bình (1980) – KTS Huỳnh Lẫm; Khách sạn Thái Nguyên (1980) KTS Nguyễn Trực Luyện; Nhà lưu niệm Bác Hồ tại bến cảng Nhà Rồng – KTS Nguyễn Kim Tấn thiết kế cải tạo,…
Từ đầu thập niên 60, giới KTS đã tham gia những cuộc thi kiến trúc quốc tế, như Đài Chiến thắng Playa Gyron ở Cuba, Công viên La Villette ở Paris, Cung Văn hóa Nghệ thuật Indira Ghandi tại Ấn Độ.
Năm 1979, lần đầu tiên các KTS nước ta tham gia cuộc thi quốc tế đoạt giải cao, đó là cuộc thi “Kiến trúc nhà ở nông thôn – 79”, đoạt Giải Nhất các phương án “Nhà ở: Đơn vị cân bằng sinh thái” (KTS Nguyễn Luận, KTS Trần Quang Trung); “Làng nổi Đồng Tháp Mười” (KTS Bùi Quang Ngân); “Nhà ở vùng đất bồi ngập mặn Năm Căn, Cà Mau” (SV Nguyễn Văn Tất).
Năm 1981, tại Italia, Ban Giám khảo Quốc tế đã trao giải thưởng cho nhóm KTS Trường đại học Kiến trúc Hà Nội, gồm Đặng Tố Tuấn (chủ trì), Phan Văn Quang, Nguyễn Đức Tuệ, Trần Đức Khuê về đề tài “Nhà ở ba thế hệ”.
Các cuộc thi trong nước cũng đạt hiệu quả cao như thiết kế Nhà Quốc hội, Cung văn hoá Lao động Thủ đô, tham gia các đợt sáng tác kiến trúc Lăng Bác Hồ, Bảo tàng Hồ Chí Minh…
Năm 1983, Ban Tuyên huấn Trung ương đồng ý Hội KTS Việt Nam xuất bản Tạp chí Kiến trúc, KTS Ngô Huy Quỳnh, Ủy viên Thường vụ Đoàn KTS Việt Nam làm Tổng Biên tập; KTS Cao Xuân Hưởng, Ủy viên Ban Chấp hành Hội KTS Việt Nam làm Phó Tổng Biên tập. Xưởng Kiến trúc của Hội cũng được thành lập vào cuối năm này.
Trong khi đó, ở miền Nam nước ta đang tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc tiến tới thống nhất Tổ quốc. Tại các thành thị, bộ máy chính quyền thực dân mong muốn duy trì vai trò thống trị dựa vào nguồn lực từ bên ngoài cũng tạo được khung cảnh yên ổn làm ăn cho người dân. Trên đất Sài Gòn mọc lên nhiều công trình và dần có bộ mặt kiến trúc mới, trong đó có sự đóng góp tài năng của nhiều KTS thuộc thế hệ đầu tiên. Trong đó, KTS Huỳnh Tấn Phát là một trường hợp đặc biệt nổi trội.
Sau năm 1954, đất nước chia hai miền, KTS Huỳnh Tấn Phát được phân công hoạt động bí mật ở Sài Gòn. Để hoạt động hợp thức, ông hợp tác làm việc tại văn phòng của KTS Nguyễn Hữu Thiện, thiết kế nhiều công trình có giá trị. Trong cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, với bề bộn công việc lãnh đạo, ông vẫn dành nhiều thời gian cho kiến trúc, trực tiếp vẽ kiểu hoặc chỉ đạo xây dựng các công trình ở căn cứ cách mạng, trong đó có Hội trường để phục vụ đại hội Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam ở Lò Gò, phác thảo phương án quy hoạch thủ phủ tạm thời của Chính phủ Cách mạng ở Lộc Ninh (tỉnh Sông Bé ngày nay).
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, phần lớn KTS tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương tuổi đã cao, song bằng kinh nghiệm và sự từng trải, các ông vẫn tiếp tục sứ mệnh của KTS là làm đẹp đất nước. Các ông đã chủ trì hoặc tham gia thiết kế nhiều đồ án quy hoạch đô thị ở Thủ đô và các tỉnh thành trong cả nước. Nhiều công trình lớn như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nhà hát Hoà Bình, Sân bay Quốc tế Nội Bài, các trụ sở Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân, khách sạn, trường đại học lớn… với sự phối hợp của các KTS lão thành (chỉ đạo) và KTS trẻ thiết kế đã đạt chất lượng cao. Do sớm được tiếp cận với những thành tựu của kiến trúc hiện đại thế giới, mặt khác có sự khai thác nhuần nhuyễn kiến trúc truyền thống và yếu tố khí hậu nên kiến trúc giai đoạn này mang được sắc thái địa phương, thể hiện những đặc trưng phong cách kiến trúc hiện đại – dân tộc – nhiệt đới hóa, tạo nên những tác phẩm rất phong phú, đa dạng đáp ứng với yêu cầu cách mạng và tạo được nhiều hình ảnh sinh động.
Sự đóng góp của các KTS cho bộ mặt kiến trúc ở khắp nước ta là rất đáng kể. Những hoạt động nghề nghiệp nêu trên, tuy không phải là tất cả, nhưng có thể xem là tiêu biểu cho sự nghiệp chuyên môn đã đóng góp cho nền kiến trúc mới Việt Nam.
Lăng Bác Hồ, KTS Nguyễn Ngọc Chân là người chủ trì phối hợp với các chuyên gia Liên Xô (cũ)
Hội trường Ba Đình, KTS Trần Hữu TIềm, KTS Nguyễn Cao Luyện
Bảo tàng Việt Bắc ở Thái Nguyễn, 1962-1963, KTS Hoàng Như Tiếp
Trụ sở Tổng cục Thống kê, (đầu những năm 1960), KTS Đoàn Văn Minh
Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc do KTS Nguyễn Ngọc Chân thiết kế, Năm 1958
Trường Đại học Thủy Lợi (đầu những năm 1960), KTS Đoàn Văn Minh

(còn tiếp)
KTS ĐĐT

Advertisements