遣悲懷其一

謝公最小偏憐女,
自嫁黔婁百事乖。
顧我無衣搜藎篋,
泥他沽酒拔金釵。
野蔬充膳甘長藿,
落葉添薪仰古槐。
今日俸錢過十萬,
與君營奠復營齋。

KHIỂN BI HOÀI KỲ I

Tạ công tối tiểu thiên liên nữ
Tự giá Kiềm Lâu bách sự quai.
Cố ngã vô y sưu mẫn hiệp
Nê tha cô tửu bạt kim thoa.
Dã sơ sung thiện cam trường hoắc,
Lạc diệp thiêm tân ngưỡng cổ hòe.
Kim nhật bổng tiền quá thập vạn,
Dữ quân doanh điện phục doanh trai.
NGUYÊN CHẨN
(779-831)

Dịch nghĩa:

GIẢI NỖI SẦU NHỚ KỲ I (1)

Con gái yêu bé bỏng nhà ông họ Tạ, (2)
Gả cho chàng Kiềm Lâu (3) trăm sự đều khó khăn!
Nhìn ta không áo, nàng mở rương lục tìm,
Biết ta thèm rượu nàng gỡ thoa bán đổi.
Sẵn rau đồng, bữa ăn thêm vị hoắc ngọt ngào,
Lá rụng thay củi, ngửa trông cây hòe cằn cỗi.
Ngày nay, tiền lương có hơn mười vạn,
Chỉ còn vì nàng bày cỗ chay cúng tế!

Chú thích:
(1) "Khiển bi hoài" là một bài thơ điệu vong (thương người đã khuất) nổi tiếng xưa nay. Vợ Nguyên Chẩn là Vi Tùng, con cưng của nhà quan, lấy Nguyên Chẩn khi ông còn hàn vi. Vi Tùng mất khi Nguyên Chẩn mới 30 tuổi và chưa làm nên; mười mấy năm sau ông làm đến chức Tể tướng, nhớ người vợ tao khang mà làm bài thơ này, cùng với nhiều bài thơ điệu vong khác.
(2) Tạ Công: tức Tạ An đời Tấn. Ở đời Đường họ Tạ là một trong những họ quí phái, nhiều người muốn làm rể nhà họ Tạ nên thường dùng từ "Tạ công" để chỉ nhạc phụ, dùng từ Tạ gia để chỉ gia đình và nhà ở của ý trung nhân hoặc của vợ.
(3) Kiềm Lâu: Cao sĩ nước Tề thời Xuân Thu, nhà nghèo. Đây, Nguyên Chẩn tự ví.

Dịch thơ

GIẢI NỖI SẦU NHỚ KỲ I

Nhà Tạ Công có con gái út
Gả chồng hàn sĩ thiếu trăm bề
Ta rét, nàng mở rương tìm áo
Gửi thoa đổi rượu đỡ khi thèm
Sẫn có rau đồng ngon đạm bạc
Lá khô đun nấu ướm cành khô
Giờ đây lương bổng hơn mười vạn
Nhơ nàng làm lễ cúng đàn chay

ĐOÀN ĐỨC THÀNH dịch thơ …

GIẢI NỖI SẦU NHỚ KỲ I

Gái yêu bé bỏng nhà ông Tạ,
Lấy gã Kiềm Lâu nghèo trơ xương.
Nhìn ta không áo, nàng lục rương,
Biết ta thèm rượu gỡ thoa bán.
Rau đồng bữa ăn ngon mùi hoắc
Lá rụng thay cội đợi hòe tàn
Ngày nay lương bổng hơn mười vạn
Vì nàng xin lập cỗ đàn chay.
KD dịch thơ.

Tạ gia trang mỹ nhân ơi
Hẩm hiu gá nghĩa cùng người hàn nho
Ta không áo, nàng kiếm cho
Biết chồng thèm rượu, kim thoa bán cầm
Canh rau đồng, ngọt tình thâm
Cành trơ hết lá khóc thầm…củi đâu
Giờ hơn mười vạn lương thâu
Đàn trai van vái nghẹn ngào xót thương
NGUYỄN TÂM HÀN dịch thơ.

GIẢI NIỀM SẦU NHỚ KỲ I

Tạ công có bé gái yêu,
Kiềm-Lâu đem gả, gặp nhiều thương đau.
Áo không, nàng kiếm ra mau,
Thấy ta thèm rượu, gỡ đầu bán thoa.
Bữa ăn, rau hoắc qua loa,
Nấu cơm: lá rụng, cành già hoè rơi.
Nay lương mười vạn, khá rồi,
Vì nàng, xin cúng chè xôi đáp tình..
ANH NGUYÊN dich thơ

Tạ Công gái út quý nhất nàng,
Lấy chàng hàn sĩ gắng giúp chàng.
Thương ta không áo, tìm rương cũ,
Chiều ta mua rượu, rút thoa vàng.
Bữa bữa ăn toàn rau dại mãi,
Ngày ngày quét cả lá hoè đun.
Nay ta bổng lộc hơn mười vạn,
Chỉ biết làm chay, cúng giỗ nàng.
NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI dịch thơ.

Con gái bé yêu nhà họ Tạ
Kiềm Lâu xuất giá gặp trăm lo.
Ta không áo mặc, tìm rương trấp
Ta thiếu rượu ngon, bán chiếc thoa.
Rau hoắc bửa ăn thêm vị ngọt
Lá rơi thay củi cỗi cây hòe.
Ngày nay lương bổng hơn mười vạn
Nàng hởi cỗ chay chứng giám cho!
NGUYỄN PHƯỚC HẬU dịch thơ.

遣悲懷其二

昔日戲言身後事,
今朝都到眼前來。
衣裳已施行看盡,
針線猶存未忍開。
尚想舊情憐婢僕,
也曾因夢送錢財。
誠知此恨人人有,
貧賤夫妻百事哀。

KHIỂN BI HOÀI KỲ II

Tích nhật hý ngôn thân hậu sự,
Kim triêu đô đáo nhãn tiền lai.
Y thường dĩ thí hành khan tận,
Châm tuyến do tồn vị nhẫn khai.
Thượng tưởng cựu tình liên tỳ bộc,
Dã tằng nhân mộng tống tiền tài.
Thành tri thử hận nhân nhân hữu,
Bần tiện phu thê bách sự ai.
NGUYÊN CHẨN
(779-831)

Dịch nghĩa

Ngày trước cứ nói đùa những chuyện về sau,
Bây giờ đều đến ngay trước mắt.
Áo quần của nàng đã dần dần đem bố thí hết,
Kim chỉ vẫn còn không nở lấy ra.
Nhớ ân tình xưa, (ta) thương cả những kẻ nô tỳ,
Nhân mộng thấy nàng, (ta) đốt giấy tiền, vàng mã.
Vẫn biết nổi đau khổ (tử biệt) này ai ai cũng gặp phải,
(Chỉ xót xa) vợ chồng nghèo nên trăm chuyện buồn thương.

Dịch thơ

GIẢI NỖI SẦU NHỚ KỲ II

Ngày trước nói gở chuyện mai sau
Ngờ đâu sự việc đến quá mau.
Đồ mặc của nàng đem bố thí
Chỉ giữ kỷ niệm chút đồ khâu
Ân tình thương cả nô tỳ cũ
Đáp mộng gặp nàng hóa mã vàng
Biết rằng từ biệt không thể tránh
Chỉ buồn một nỗi quá nghèo thôi

ĐOÀN ĐỨC THÀNH dịch thơ

Những lời thuở trước hay đùa cợt,
Nay thành sự thực hết nàng ơi.
Áo xưa bố thí người nghèo hết,
Kim chỉ còn đây chẳng nở rời.
Nhớ nàng thương cả nô tỳ cũ,
Mộng nàng đành đốt giấy tiền thôi.
Vẫn hay tử biệt ai không thế,
Nghèo khổ nên trăm nỗi ngậm ngùi.
NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI dịch thơ.

Trước đây hậu sự nói chơi,
Sáng nay đối mặt rối bời ruột gan.
Áo quần liệm hết cho nàng,
Giữ vài bộ mới bàng hòang ngó lơ.
Nàng thương kẻ ở trong nhà,
Thấy nàng qua giấc mơ mà đem cho.
Biết rằng ai cũng qua đò,
Nhớ xưa kham khổ, nay cho thêm buồn!
laiquangnam dịch thơ.

遣悲懷其三

閒坐悲君亦自悲,
百年都是幾多時。
鄧攸無子尋知命,
潘岳悼亡猶費詞。
同穴窅冥何所望,
他生緣會更難期。
唯將終夜長開眼,
報答平生未展眉。

KHIỂN BI HOÀI KỲ III

Nhàn toạ bi quân diệc tự bi,
Bách niên đô thị kỷ đa thì.
Đặng Du vô tử tầm tri mệnh,
Phan Nhạc điệu vong do phí từ.
Đồng huyệt diểu minh hà sở vọng,
Tha sinh duyên hội cánh nan kỳ.
Duy tương chung dạ thường khai nhãn,
Báo đáp bình sinh vị triển my.
NGUYÊN CHẨN
(779-831)

Dịch nghĩa

Lúc rỗi ngồi thương nàng lại tự thương mình,
Trăm năm cũng chẳng là mấy chốc.
Đặng Du không có con mới biết thiên mệnh, (1)
Phan Nhạc làm thơ địêu vong cũng chỉ lời suông. (2)
Chung một nấm mồ trong cõi u minh thì có chi mà mong ước,
Kiếp sau đoàn tựu càng khó lòng hò hẹn.
Ta chỉ còn biết chong mắt mãi súôt đêm dài,
Để báo đáp ân tình của nàng suốt đời chưa hề được tươi nét mặt.

Chú thích:
(1) Đặng Du, người thời Lục triều. Trong khi chạy loạn bất đắc dĩ ông phải mất con để cứu cháu, về sau không có con, người đời cho là trời bất công.
(2) Phan Nhạc: nhà thơ đời Tấn, tự là An Nhân, nên cũng gọi là Phan An, nổi tiếng đẹp trai. Phan Nhạc có làm ba bài thơ "điệu vong" khóc vợ, rất nổi tiếng.

Dịch thơ:

GIẢI NỖI SẦU NHỚ KỲ III

Ngồi rỗi thương nàng, tự thương mình
Trần thế trăm năm là mấy chốc
Đặng Du mệnh trời đành cô độc
Phan Nhạc điếu vợ cũng thơ suông
Mồ chung tăm tối mấy ai mong
Kiếp sau chẳng dễ mà hò hẹn
Chong mắt thâu đêm lòng xao xuyến
Duyên tình báo đáp mặt sầu vương.

ĐOÀN ĐỨC THÀNH dịch thơ.

Ngồi rỗi thương em, anh tự thương
Trăm năm trần thế được bao nhường?
Đặng Du con mất biết do mệnh
Phan Nhạc thơ buồn điếu vợ suông
Chung huyệt cùng em e vọng tưởng
Lai sinh với bạn khó hẹn thường
Nhớ em chỉ biết đêm đêm ngóng
Báo đáp tình em mắt lệ vương.
TRƯƠNG ĐÌNH TÍN dịch thơ.

Rãnh ngồi nhớ bậu lại thương qua,
Trần thế trăm năm mấy chốc hà!
Họ Đặng không con rành mệnh số
Ông Phan tưỡng vợ điếu vong thơ.
U minh chung huyệt còn mong ước
Kiếp tới vầy duyên khó hẹn hò.
Chong mắt thâu đêm dài tiếc nhớ
Suốt đời báo đáp mặt bơ phờ.
NGUYỄN PHƯỚC HẬU dịch thơ

Ngồi nghĩ thương nàng lại tự thương,
Trăm năm ta cũng sắp theo nàng.
Đặng Du cô độc đành tri mệnh,
Phan An thương điếu cũng lời suông.
Chung mồ tăm tối trông chi nữa,
Kiếp sau sum họp khó mà mong.
Chỉ còn chong mắt tròn đêm thức,
Báo đáp tình xưa những tủi lòng.
NGUYỄN THỊ BÍCH HẢI dịch thơ.

GIẢI NIỀM SẦU NHỚ

Ngồi thương em, lại thương mình,
Trăm năm cuộc sống, ân tình bao lâu.
Đặng-Dung, con hiếm, không cầu,
Vợ, thương, Phan-Nhạc tặng câu thơ rồi.
Huyệt chung, là chuyện xa vời,
Kiếp sau gặp gỡ, hẹn thời khó thay.
Suốt đêm không chớp mắt này,
Sao bù lúc sống chân mày chẳng tô!…
ANH NGUYÊN dịch thơ.

Advertisements