Mời anh
đến thăm quê tôi

Vũ Thế Long

Thưở mới ê a tập đọc, lên lớp, thày bắt lũ trẻ chúng tôi học thuộc lòng một bài văn mà có lẽ thế hệ chúng tôi, ai đã cắp sách đến trường, cho đến cuối đời cũng không thể nào quên bài: lá thư của một người nông dân Liên Xô:
“Bạn hãy đến thăm quê tôi vào một mùa xuân nào đó, khi đỉnh núi A La Tau tuyết phủ long lanh dưới ánh mặt trời. Trên sườn núi cỏ non xanh rợn….”

Lá thư của anh Nông dân Liên Xô vẽ ra một cảnh tượng êm đềm, một cuộc sống ở chốn thiên đường. Học xong bài văn, đứa nào đứa ấy chỉ ao ước có một lần được đến “Chốn thiên đường” ấy. Thế rồi, lũ chúng tôi mỗi người mỗi ngả, lớn lên, tôi và một số bè bạn trong lớp thời ấy cũng có dịp đặt chân lên “Chốn thiên đường”. Kẻ thì qua để công tác, hội nghị, người thì sang để học hành kiếm cái bằng cử nhân tiến sỹ và cả những người sang để quần quật làm lụng vất vả ca ngày ca đêm trong các xưởng máy Xô Viết là kế mưu sinh để tự cứu mình và gia dình trong thời buổi kinh tế khốn khó…Mỗi người cảm nhận về “cái thiên đường” một khác. Người thì luôn mơ mộng nhớ về những cảnh cỏ non xanh rợn chân trời, tuyết phủ long lanh, hoa lê trắng xóa. Người thì âm thầm nhớ lại những đêm đông rét buốt không nhà lang thang dưới mưa tuyết lạnh, lê gót từ xưởng máy về khu trại tập thể công nhân…
Sau này, tôi mới biết tác giả của những dòng văn bất hủ mê hoặc lòng người ấy chính là một nhà triết học, một nhà cách mạng lão làng người xứ Thanh đã từng làm Xứ ủy Nam kì từ trước Cách mạng. Ông chưa hề được đặt chân lên “Chốn thiên đường” ấy nhưng ông vẽ ra cả một thiên đường để thiên hạ tha hồ mà mơ mộng, mà thèm muốn.
Đọc cái đầu đề này, chắc bạn sẽ chờ đợi một lời mời về thăm quê tôi. Vâng, Đúng vậy, tôi rất muốn được mời các bạn về thăm quê tôi. Ai mà chẳng có quê. Ai mà chẳng muốn khoe về quê hương của mình. Riêng tôi, người có quê gốc gác nhiều đời nội ngoại ở giữa thủ đô Hà Nội, tôi vẫn thèm khát một quê hương như bao quê hương mà bạn bè tôi có. Thời trẻ con, cứ mỗi khi ve kêu là lũ bạn tôi háo hức lắm. Chúng sắp được về quê với ông bà, được thả sức tắm sông, chạy nhẩy trên bờ đê, câu cá, nướng khoai, thả diều với tụi trẻ trâu và nô hò ầm ỹ duới ánh trăng rằm ngoài sân đình… Nghe lũ bạn ở quê ra kể mà phát thèm. Tôi chỉ nhận biết được phần nào cái cảnh ấy nơi ven đê Sông Hồng hay những buổi qua cầu Long Biên lang thang ngoài bãi giữa đến chiều lại lại lủi thủi về ăn bữa cơm nhà với bố mẹ, ông bà.
Về già, nghỉ hưu nhiều bè bạn tôi lại về quê xây nhà, lập trại để vui thú diền viên. Họ có quê hương. Hà Nội, quê hương của tôi vốn đã ồn ỹ “phố phường chật hẹp người đông đúc” nay lại càng ồn ào đông đúc, chật hẹp trong một không gian hỗn loạn và nghẹt thở bởi bao thứ hỗn độn của kinh tế thị trường phát triển qúa vội vã thiếu tính toán. Cái chốn thơ mộng nhất của Hà Nội như Hồ Tây, Bãi Sông Hồng, Làng hoa Nhật Tân…nay cũng đã lố nhố những nhà cao nhà thấp quê chẳng ra quê, tỉnh chẳng ra tỉnh. Chán mớ đời!
Bởi thế, hễ có ai rủ đi đâu về nông thôn là tôi lại vội vã theo ngay để tìm cho mình một không gian đáng sống dù là chỉ dăm bữa nửa tháng.
Năm ngoái, biết tôi làm nghề khảo cổ, cánh bạn trẻ nà báo và truyền hình Thông Tấn rủ tôi vào Vĩnh Lộc cùng điều tra khu Thành Nhà Hồ. Vốn quen lang bạt bởi nghề Khảo cổ, về hưu ngồi nhà viết lách dạy học nó cũng cuồng chân. Có lời mời là tôi đi luôn. Nghĩ rằng tôi đã cao tuổi nên đám bạn trẻ lo chú đáo lắm. Xe đến đón tận nhà, dọc đường Hồ Chí Minh xe chạy băng băng, thấy quán ngon, cảnh dẹp anh em lại dừng xe mời ngắm cảnh, ăn sáng uống nước.
Đường dài thả sức trò chuyện đủ thứ từ cái thú ăn uống ở xứ đồng quê, đồng rừng cho đến các phong tục cưới xin cỗ bàn ở nơi này nơi nọ. Về những vùng quê mà đám cưới nhất thiết phải có món thịt chuột, thịt nhím hay những mâm cỗ không thể thiếu món nậm phìa…Thú thật, qua trò chuyện với đám bạn trẻ quê ở tứ xứ tôi cảm thấy khỏe hẳn ra và học được biết bao điều mà cả đời lang thang cũng không biết hết.
Tuấn, và Sơn, hai chàng trai xứ Thanh thì thao thao bất tuyệt về các loại nem chua nổi tiếng mà tôi chưa hề dược biết, rồi thì các món cá sông cá suối, lươn, cua, ốc ếch , cả bánh gai, bánh bèo chợ quê.. Nghe mà mê mẩn. Hai bạn hẹn thế nào cũng phải mời Bác về nhà em làm một bữa cho ra trò.
Xe chạy băng băng trên đường Hồ Chí Minh phẳng lì, hai bên là núi đồi xanh đến mê hồn, chẳng mấy chốc chúng tôi đã tới Thành Nhà Hồ. Dưới cái nắng chang chang của trưa hè, chúng tôi mải mê leo thành, trèo núi để khảo sát các mỏ đá cổ mà thời Nhà Hồ ông cha ta đã tìm ra để khai thác dựng thành.
Đứng lặng người ngậm ngùi trước công trình kiến trúc đồ sộ dở dang tốn bao sức người sức của của một triều đại cải cách dang dở. Một tòa thành hùng vĩ nhưng cũng để lại nhiều dấu ấn của sự suy tàn ngay từ trong lúc đang xây. Tòa thành chưa bao giờ bị giặc đánh mà đã mất giang sơn vào tay giặc. Dấu tích còn đấy như nhắc nhở muôn đời: “Không có thành cao hào sâu nào sánh được với bức thành trong lòng người. Giữ được lòng dân thì giang sơn muôn đời bền vững” …
Quá Ngọ, Sơn mời chúng tôi về nhà ăn cơm. Sơn quê ở ngay Vĩnh Lộc trong thị trấn. Nhà hai tầng bê tông khang trang ngay mặt phố , ông cụ là tay thợ ô tô lành nghề mở ngay một gara trong phố. Trải chiếu trên nền gạch hoa, mấy cô em tíu tít dọn “cơm rau cơm dưa” mà toàn thịt toàn cá. Đúng là cá ao nhà gà trong vườn, măng hái ngoài bụi, cải tươi vườn nhà sao mà đậm đà, ngon lành đến thế. Khó có nhà hàng nào sánh kịp. Chỉ tiếc rằng quê Sơn cũng lên đời thành phố xá mất rồi. Tuy không đông đúc tắc đường kẹt xe như Hà Nội và đỡ ồn ào hơn nhưng đâu đó vẫn xập xình Tây nhạc trong các quán cà phê , Karaoke tỉnh lẻ. Nhà cửa thì cái cao cái thấp hết mái nhọn lại đến củ hành củ tỏi, rồi thì điêu khắc diều hâu đại bàng sư tử trên mặt tiền. Vôi xanh vôi hồng lòe loẹt. Lác đác dăm nhà hàng cơm phở, lòng lợn tiết canh, cầy tơ bẩy món rồi thì ảnh viện, trang điểm cô dâu…na ná như mọi thị tứ thị trấn mọc lên như nấm khắp nơi trên đất nước này sau thời đổi mới.
Chẳng còn đâu cái cảnh làng quê mà tôi mơ ước. Hương đồng gió nội bay đi hết rồi!
Ôi! Đô thị hóa là vậy chăng?
Sau buổi chiều leo núi, trời nắng, mang vác máy quay lên đỉnh núi ghi hình, lấy tư liệu mệt rã người. Thấy tôi và Kiến trúc sư Đoàn Đức Thành đã cao tuổi có vẻ mệt. Anh em bàn nhau nên ra Sầm Sơn hay về khách sạn thành phố nghỉ cho đỡ mệt. Tôi đã phát ngán cảnh sống nơi đô thị hay chui vào các khách sạn vừa tốn kém, vừa chẳng được thưởng thức cái phong vị đồng quê vốn tôi luôn mơ ước. Tuấn hăng hái có lời mời “Mời các bác và anh em về thăm quê tôi”. Được mời như cởi tấm lòng, tôi tán tánh ngay và cả nhóm đều vui vẻ theo Tuấn “về quê”.
Xe chạy qua khu Đàn Nam Giao, leo lên đồi cao rồi quặt vào một khu rừng xanh mát. Đi ngoằn ngoèo một đoạn thi tới bờ sông. Tới ngã ba sông, xe rẽ vào làng. Ôi! Đây mới thật là làng quê! Ngoài ngôi đình và chùa làng mới được tân trang, dựng tượng, hầu như cả làng không thấy bóng dáng một ngôi nhà kiến trúc kiểu đô thị kệch cỡm nào. Đầu làng có cây đa cổ thụ cành lá la đà vươn sát xuống mặt nước sông dưới bóng đa là bậc thang xuống bến nước, chiều về các thôn nữ gội đầu giặt giũ. Ôi cảnh chiều thanh bình như trong mơ.
Tuấn mở cửa ngôi nhà của mình mà thửơ còn thơ, Tuấn cùng ông bà bố mẹ cùng vui vẻ quây quần trong bữa cơm chiều . Ngôi nhả để không nay có anh em về như sực tỉnh giấc sống lại. Thắp hương trên bàn thờ tổ. Tuấn ngẩn ngơ suy tư về những ngày đầm ấm nơi chôn nhau cắt rốn năm xưa. Nay các Cụ tổ, Ông Bà đã ra đi, cả nhà Tuấn đều ra công tác chốn thị thành. Ngôi nhà khóa cửa gửi anh em họ hàng trông nom. Năm thì mười họa họ mới mở của phẩy bụi, thắp hương. Nhìn sang vườn nhà bên, cũng một ngôi nhà ba gian hai chái vườn rộng, sân gạch nhưng cỏ mọc um tùm. Cột kèo cũng đã bắt đầu mục nát vì vắng hơi người. Tuấn bảo nhà ấy bỏ đi làm ăn xa cả, chắng thấy ai về. Bố mẹ già thì đều đã đi cả rồi.
Tranh thủ trời chưa tối, trong cảnh hoàng hôn , Tuấn dẫn tôi vào các ngõ xóm. Nhiều gia đình đều đã bỏ quê đi làm ăn xa xứ mong làm giàu, đổi đời nơi đất lạ quê người. Cảnh thôn quê thật bình an. Nhãn ổi trĩu trịt trên cành mà chẳng ai buồn hái. Trái ngon quả ngọt rụng đầy sân. Bao ngôi nhà xinh đẹp ẩn trong vườn hoa sân gạch nhưng đều khóa cửa vì chủ nhân đều đã ra thành thị sống. Có chăng chỉ ngày giỗ hay ngày tết mới về làng. Mỗi ngôi nhà, ngõ xóm như một bảo tàng sống im lìm và lạnh lẽo trong không khí êm đềm hiếm có của một miền quê tĩnh lặng.
Tôi theo Tuấn ra ngã ba sông đầu làng. Nhìn dòng sông êm đềm trôi xuôi, các em nhỏ đang nô đùa dưới, nước. Xa xa bãi sông đàn cò bay lượn, bầy trâu nhẩn nha găm cỏ. Tôi như lạc vào một miền quê chỉ còn lại hồi ức trong tiềm thức bỗng sống dậy trước mắt . Cứ như trong cõi mộng hiện về.
Trời nhá nhem tối, cơm cũng đã dọn ra. Mấy chú em họ Tuấn đã mang tới vò rượu ngang cất đã lâu trữ trong hũ sành. Nem chua to bằng cổ tay không độn cả đống lá chuối như nem bán ngoài thị thành . Chú em đốt dống rơm ngay sân vườn để lùi nem trong lửa đỏ hừng hực. Trải chiếu trên sân gạch, cả lũ đánh trần uống rượu thưởng trăng cho đến tận khuya. Nằm ngửa mặt ngắm trăng giữa đêm hè ngoài sân trong cái không gian tĩnh lặng nơi thôn dã là cái thú mà chẳng có khách sạn năm sao mười sao nào có được. Với tôi, đây là cái khách sạn ngàn sao. Ta nằm đấy ngắm muôn vàn tinh tú lấp lánh và nghe tiếng chim đêm lạc đàn bay về nơi hoang vắng xa xăm…
Đêm về khuya, mọi người đã lên giường sau một ngày mệt nhọc và sau bữa rượu thỏa thuê. Tôi nằm ngửa trải chiếu trên sân gạch ngắm trăng sao với Tuấn. Anh em bàn nhau : “Sao không biến những ngôi nhà thơ mộng, giản dị và xinh đẹp này thành chốn du lịch cho tất cả bà con bè bạn nào còn có tâm hồn yêu cái làng quê cổ truyền này đến nghỉ một đêm sau khi đi thăm khu di tích Thành nhà Hồ vừa được Unesco công nhận?” Nếu làm dược điều ấy, vừa tạo dược công ăn việc làm của bà con trong làng khỏi phải tha phương cầu thực khắp nơi lại có điều kiện để gìn giữ, làm sống lại những ngôi nhà truyền thống bị bỏ không cả năm trời chẳng ai ngó ngàng. Làng quê chân chất an lành và thanh bình của chính mình vốn là một tài sản, tài nguyên du lịch mà chẳng mấy ai quan tâm. Người ta chỉ thích đổ xô về cốn thị thành, xây những khách sạn cao tầng, những kiến trúc nhố nhăng, nhà nghỉ kệch cỡm mà quên đi đi bao giá trị ngàn vàng mà bao đời cha ông mới tạo dựng nên được.
Nên tìm cách làm sống lại những ngôi nhà đẹp như trong mộng nhưng đang dần dần trở nên hoang phế vì chẳng ai về quê mà sống. Phải biến nó thành những “khách sạn dân dã” đậm hồn dân tộc…rồi cả những món ăn đặc sản, hoa trái bốn mùa và biết bao hoạt động dân gian lí thú nữa.
Tuấn hỏi: “Thế ta nên gọi loại du lịch này là gì anh nhỉ?” tôi nghĩ: “Hay ta gọi: du lịch đồng quê ? Du lịch về quê ?”
Có cơn gió mát lạnh từ phía sông thổi lên. Tuấn đã thiêm thiếp ngủ. Tôi nằm lim dim ngắm ánh trăng rằm và tự nhiên muốn viết một lá thư gửi bè bạn:
“Mời anh đến thăm quê tôi vào một đêm hè nào đó, khi những vì sao lấp lánh trên bàu trời và dòng nước trong róc rách chảy ngoài bến sông xen tiếng cá nhảy…” Một lá thư mời gọi thực lòng chẳng phải là cái thiên dường tưởng tượng.

Hà Nội 21-3-2012
Viết tặng Sơn, tuấn và an hem trong đoàn công tác Thành Nhà Hồ

Advertisements