“Nhập đồng thơ”, thật hay giả ?

doanducthanh-KIẾN TRÚC VIỆT: Hôm nay mở mạng thấy giới văn học có mấy ông nhà thơ quái đản, cứ như các ông đang sống ở trên cung trăng hay trong một thế giới u mê nào khác. Vào thời đại hiện nay, thế kỷ XXI, các ông đã tin vào "nhập thần", một sự bịa đặt nhảm nhí kỳ quặc trong sáng tác thơ. Thôi thì cái ông khoa học kia nói nhăng cuội về thơ cho sướng mồm thì mặc kệ ông ấy. Đằng này, cả ông Chủ tịch UB Toàn quốc liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật VN kiêm Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam cũng a dua a tòng quảng bá cho những chuyện bốc phét chẳng đâu ra đâu, chắc chỉ có ở Việt Nam: Trong một đêm viết đến 121 bài thơ! Chuyện vớ vẩn, lẩm cẩm, thế mà cũng khối người tin, lại còn tổ chức hội thảo nữa chứ. Các ông hâm quá mức rồi! Thật buồn cho ông Chủ tịch UB Toàn quốc. Trình độ của ông như thế mà đứng đầu một loạt hội, trong đó có cả Hội KTSVN cơ đấy. Nhục.
Thôi, copy vào đây mấy bài báo để đọc cho vui, cho thấy đầu óc một số người trong giới văn học – nghệ thuật kém cỏi, ngu đần đến thế nào.

Nhà thơ Chủ tịch hội nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh và nhà thơ “thiên giáng” Hoàng Quang Thuận (ảnh Vănvn.net) …

Sau khi Báo Thanh Niên ngày 10.8 đăng tin Hiện tượng nhập đồng thơ về tác giả Hoàng Quang Thuận chỉ trong một đêm viết tới 121 bài thơ, chúng tôi đã nhận được các ý kiến trái chiều nhau về hiện tượng này.

Ngay tại cuộc hội thảo do Hội Nhà văn tổ chức ngày 8.8, nhà thơ Hữu Việt đã nhận xét: “Với người làm thơ, những giây phút xuất thần viết ra những câu thơ như có bề trên điều khiển không phải quá hiếm. Khi người ta tập trung cao độ vào việc gì đó trong một thời gian dài thì giới hạn giữa vô thức và nhận thức có thể bị xóa nhòa và xảy ra hiện tượng “nhập thần””.

Ông Hoàng Quang Thuận sinh năm 1953, quê Quảng Bình, hiện là Viện trưởng Viện Công nghệ viễn thông – Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, sống và làm việc tại TP.HCM. Tác giả 3 tập thơ Thi Vân Yên Tử, Ngọa Vân Yên Tử và Hoa Lư Thi Tập đã được in và tái bản 4 lần bằng tiếng Việt và 3 ngôn ngữ Việt – Anh – Pháp. Năm 2009, ông Thuận đã làm hồ sơ dịch 2 tập thơ ra tiếng Anh gửi tham dự giải Nobel văn chương quốc tế.

Giải thích về chuyện làm thơ, ông Thuận cho biết trước năm 1997 ông chưa bao giờ làm thơ và cũng chưa bao giờ nghĩ mình sẽ làm thơ, nhưng duyên nghiệp thơ ca đã đến với ông khi lần đầu tới thăm Yên Tử và như một sự hối thúc bên trong rất khó lý giải. Ông Thuận khẳng định, trong 3 đêm ở Yên Tử ông viết 63 bài thơ, còn chỉ trong một đêm ở cố đô Hoa Lư, ông viết 121 bài thơ trong vòng 4 giờ (240 phút). Vậy là mỗi bài thơ, ông sáng tác chỉ trong vòng 2 phút.

Có nhà văn nhận xét: chuyện này nghe như bịa đặt, bởi chỉ trong 2 phút không chắc ông ấy đã chép xong một bài thơ, chứ chưa nói tới việc người làm thơ phải “lao tâm khổ tứ” tìm lời, chọn ý.

Bình luận về thơ của ông Thuận, nhà thơ Trần Trương (Tạp chí Thơ) cho rằng: “Tác giả bảo trong 4 giờ của một đêm, hình như có “tiền nhân” nhập vào hồn nên ông viết liền 121 bài thơ theo thể tứ tuyệt Đường luật. Tôi nghe xong thấy kinh hãi, và tự hỏi: đây là một thiên tài hay một người tâm thần vì ông đã quyết định gửi tập thơ Thi vân Yên Tử đi dự giải Nobel thế giới”.

Trái ngược với nhận định trên của ông Trần Trương, khi đề cập tới bài thơ Am xưa của Hoàng Quang Thuận: “Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc/Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm/Tiếng sáo thiền ca vui bất tận/Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng”, nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới. “Thực ra trong văn học, số lượng không nói lên điều gì nhưng một người đến thăm và làm hơn 100 bài thơ về Yên Tử, có nghĩa tác giả đã đến, sống và hòa mình vào cảnh sắc, vào các giá trị của dân tộc. Anh đến Yên Tử, làm thơ không phải để so tài với ai mà chỉ làm một việc: ghi lại những chấn động trong tâm hồn mình một cách chân thực, thành kính. Chân thành là nghệ thuật cao nhất của thơ ca”, nhà thơ Hữu Thỉnh nói.

Các nhà thơ, nhà văn nói gì ?

““Nhập thần” viết ra một vài bài thì có thể giải thích được, chứ viết hơn trăm bài thơ trong một đêm thì quả thật khó hình dung!”

Nhà thơ Hữu Việt:

“Tôi đọc tập Thi vân Yên Tử và nghe qua nhiều phát ngôn của bạn đọc và các nhà thơ khác thì tập thơ này là tập thơ tả cảnh một cách trực giác nhưng vô hồn, một tập thơ của người chơi ngông, và chắc chắn là hầu hết các bài làm theo kiểu “Đường luật” thì đều sai luật”

Nhà thơ Trần Trương:

Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Thuận đã nói về hiện tượng “Nhập đồng Thơ” ngày 4.4.2010 sau khi ông dâng hương tại một “Đàn cầu thơ” ở vùng cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) cùng với nhà thơ Dương Kỳ Anh (nguyên Tổng biên tập Báo Tiền Phong).

Để làm chứng, 2 nhà thơ này đã cùng ký tên vào góc 141 tờ giấy trắng và cầu mong đêm ấy sẽ có “thơ ứng nghiệm”. Đến nửa đêm, cả hai ông đều chưa viết được gì. Nhưng chỉ trong vòng 4 giờ tới mờ sáng, khi ông Dương Kỳ Anh thiếp ngủ vì mệt thì ông Hoàng Quang Thuận, đã “nhập đồng thơ” viết như người mộng du liên tục 121 bài thơ trên những trang giấy trắng có chữ ký của 2 ông.

Nhận xét về hiện tượng này, ông Anh cho biết, đây là một sự kiện kỳ lạ mà ông chưa bao giờ được thấy, nếu không có chữ ký của ông ở góc những tờ giấy trắng kia, có thể ông sẽ nghĩ ông Thuận đã chép lại một tập thơ của ông ta hoặc ai đó. Ông Anh cũng cho rằng chính mình cũng thấy rất thú vị trước nhiều câu thơ của ông Thuận viết như những câu: “Xiêm y tiên nữ bỏ quên rồi/Bầu vú căng tròn sữa vẫn rơi/Sư tử chầu bên không lay động/Voi thiền mắt nhắm nước sông trôi”.

Hoàng Quang Thuận & dự án Nobel thơ

Từ một người không hề biết làm thơ, bỗng dưng được rắn hổ Kim Xà và phượng hoàng nhập hồn, biến thành một nhà thơ với những vần thơ “thiên giáng” dự giải… Nobel!

Cà phê Trúc Lâm Viên, Đà Nẵng. Đang ngồi với Nguyễn Quang Lập và Huy Đức thì một gã đến chào. Người phốp pháp, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao. Trông tướng vừa tựa Mã Giám Sinh, áo vét đen thẳng nếp chỉn chu như một quan chức hàng Bộ trưởng, lại vênh váo bất cần vẻ ta đây của một tay trọc phú thừa tiền ít chữ.

Tôi chưa từng gặp và cũng chẳng nghe cái tên Hoàng Quang Thuận bao giờ. Lão cũng vậy, nghe anh Lập và Huy Đức giới thiệu Trương Duy Nhất mà cứ ngơ ngơ như bò đội nón. Huyên thuyên về tiền và các mối quan hệ từ tầm Hữu Thỉnh, Hữu Ước trở lên.

Khi gã đi rồi, Nguyễn Quang Lập mới tủm tỉm: nhà thơ Hoàng Quang Thuận, ông đã nghe bao giờ chưa? Về bấm google sẽ ra, một nhân vật khá… hay đấy!

Thế rồi sự việc cứ trôi qua khiến quên béng đi. Cái tên Hoàng Quang Thuận quá lạ, không đủ hấp lực để buộc tôi phải gõ google tìm kiếm. Dáng hình phốp pháp nhẵn nhụi mày râu vênh váo bất cần như bao hình mẫu thường nhật cũng vụt qua mau, chẳng để lại ấn tượng gì.

Bất chợt mấy hôm rồi đọc báo thấy thổi ỏm tỏi chuyện một lão nhập đồng làm “dự án” thơ tham gia giải Nobel. Trông khuôn mặt quen quen, cố nhớ mãi, hóa ra là cái lão áo vét chỉn chu nhẵn nhụi mấy tháng trước gặp ở cà phê Trúc Lâm Viên.

Lần này thì không kiềm nổi. Gõ google mới tá hỏa: hóa ra lão này quá… nổi tiếng! Một “hiện tượng văn chương”, những vần thơ "thiên giáng" !!!

Trước khi nhận định về “những vần thơ thiên giáng" và hiện tượng Hoàng Quang Thuận, hãy tìm hiểu xem ông là ai và cơ duyên nào đã khiến ông đến với thơ để trở thành một “hiện tượng văn chương” ứng viên tiềm năng của giải… Nobel?

Sinh năm 1953, quê Quảng Bình, là giáo sư tiến sĩ, Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông – Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, hiện sống và làm việc tại TP.HCM. Hoàng Quang Thuận cho biết từ trước 1997, ông chưa bao giờ biết làm thơ. Nhưng duyên nghiệp thơ ca đã đến với ông khi lần đầu tới thăm non thiêng Yên Tử.

Khi từ đỉnh chùa Đồng xuống đến chùa Hoa Yên, ông gặp một tay thanh niên người dân tộc đang ngồi rao bán một con rắn hổ chúa có mào đỏ chót nghe nói vừa bắt được tại gốc sứ cổ thụ 700 năm tuổi, sát cạnh mắt rồng của khu lăng mộ tổ vua Trần. Ông Thuận đã mua “ngài” hổ chúa rồi phóng sinh. Con hổ chúa được vị ni sư Huệ Giác đặt tên là Kim Xà. Điều kỳ lạ: ngay khi được thả, Kim Xà bèn ngẩng cao đầu hơn 1m, gật đầu ba lần chào ông Thuận rồi mới trườn vào rừng thiêng Yên Tử.

Từ đó ông như bị thần nhập và bắt đầu biết làm… thơ! Chỉ trong 3 đêm, cứ từ 12 đến 5 giờ sáng, ông viết liền một mạch 63 bài thơ về Yên Tử. Những vẫn thơ "thiên giáng" ấy được in thành tập “Ngọa vân Yên Tử”. Sau này ông cho bổ sung, tái bản thành tập mới là “Thi vân Yên Tử” với 143 bài. Độc bản 143 bài “Thi vân Yên Tử” nặng 120kg sau đó được trao giải “kỷ lục châu Á”.

Một tập thơ khác của Hoàng Quang Thuận cũng đượm chất kỳ bí bởi được khoác vào câu chuyện “tiền nhân mượn bút”.

Trong dịp đại lễ nghìn năm Thăng Long, ông và nhà thơ Dương Kỳ Anh về “cầu thơ” tại khu du lịch tâm linh Tràng An – Bái Đính. Khi thuyền qua đền Trình, ngang cửa hang Địa Linh, hang Tối, hang Sáng, hang Nấu Rượu… thì bỗng thấy hiện lên một con chim phượng hoàng tuyệt đẹp cánh trắng, mỏ vàng bay lướt qua rặng cây ven suối. Lập tức lúc đó người ông như trào dâng một cảm giác rất đặc biệt, như đột nhiên bị lôi chìm vào một không gian trầm mặc, trang nghiêm và kỳ bí của mấy nghìn năm trước.

Sau khi lễ tại đền Trần, Dương Kỳ Anh và Hoàng Quang Thuận ở lại qua đêm mỗi người một phòng trong khu nhà lầu hình bán nguyệt. Hai ông đã cùng nhau làm một cuộc tâm nguyện trước bàn thờ Phật tổ rồi ký tên vào những xấp giấy trắng (khổ A4) để ứng nghiệm thơ thiền (xin thần nhập về để làm… thơ). Hai người ký chéo những tờ giấy trắng và trao đổi cho nhau. Hoàng Quang Thuận nhận 141 tờ có chữ ký của Dương Kỳ Anh và ngược lại. Đến 12h đêm, mọi thứ vẫn yên bình không động tĩnh gì. Khuya, Hoàng Quang Thuận chợt thấy mát lạnh trong người, như có một luồng gió lạ thổi qua. Ông lấy một tấm chăn choàng lên người và ngồi vào bàn viết. Kỳ lạ, như có “tiền nhân” nhập hồn, những câu thơ cứ tự thế tuôn trào, ông ngồi viết liền một mạch trong trạng thái rất vô thức. Khi giật mình choàng tỉnh thì đã 4h sáng. Nhìn trên mặt bàn, ông thấy la liệt những tờ giấy mình vừa viết, thu lại đếm được tất cả 121 bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt Đường luật. Chính ông cũng ngỡ ngàng không tin được điều kỳ lạ vừa xảy ra. Trong khi Dương Kỳ Anh chỉ làm được vỏn vẹn… 4 câu.

Thật hư câu chuyện Kim Xà mào đỏ và chim phượng hoàng cánh trắng mỏ vàng ra sao không rõ. Bởi chẳng ai thấy, chỉ nghe ông Thuận kể lại. Nhưng chuyện ông bỗng dưng biết làm thơ, thơ tuôn trào đến hàng trăm bài thì có thật.

Chính Dương Kỳ Anh cũng phải khâm phục và kinh ngạc trước sự “nhập thơ” thần bí kỳ lạ này. 121 bài thơ Đường luật “tiền nhân mượn bút” đó sau này được Hoàng Quang Thuận in thành cuốn “Hoa Lư thi tập”. Độc bản “Hoa Lư thi tập” nặng 54kg được đem trưng bày tại khu vực hoàng thành Thăng Long trong dịp kỷ niệm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội.

Nếu độc bản “Thi vân Yên Tử” được trao giải “kỷ lục châu Á”, thì độc bản “Hoa Lư thi tập” (kích thước 109cm x 70cm x 10cm, nặng 54kg) đang được ông Thuận làm hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là… di sản ký ức nhân loại!

Lịch sử văn chương Việt chưa bao giờ có được một “hiện tượng thơ” độc đáo và kỳ bí đến vậy. 3 tập “Thi vân Yên Tử”, “Ngọa vân Yên Tử” và “Hoa Lư thi Tập” được in và tái bản tới 4 lần với các bản tiếng Việt – Anh – Pháp. Riêng tập “Thi vân Yên Tử” được một vị giáo sư tên David đem về sử dụng để… giảng dạy trong trường đại học ở Mỹ (!?)

Đặc biệt và hoảng hốt hơn: Từ năm 2009, ông Thuận đã cho làm hồ sơ dịch 2 tập “Thi vân Yên Tử” và “Hoa Lư thi Tập” sang tiếng Anh để gửi tham dự giải Nobel văn chương quốc tế. (xem kyluc.com, an ninh thủ đô, phongdiep.net)

Hoàng Quang Thuận với những tập “thơ thần” và “dự án” Nobel của ông đã tạo nên một hiện tượng hiếm hoi có một không hai. Nhiều bàn cãi, chê thì thậm tệ mà khen cũng ngút trời.

Nhà thơ Trần Trương (tạp chí Thơ) cho rằng: “Tác giả bảo trong 4 giờ của một đêm, hình như có “tiền nhân” nhập vào hồn nên ông viết liền 121 bài thơ theo thể tứ tuyệt Đường luật. Tôi nghe xong thấy kinh hãi, và tự hỏi: đây là một thiên tài hay một người tâm thần vì ông đã quyết định gửi tập thơ “Thi vân Yên Tử” đi dự giải Nobel thế giới. Tôi đọc tập “Thi vân Yên Tử” và nghe qua nhiều phát ngôn của bạn đọc và các nhà thơ khác thì tập thơ này là tập thơ tả cảnh một cách trực giác nhưng vô hồn, một tập thơ của người chơi ngông, và chắc chắn là hầu hết các bài làm theo kiểu “Đường luật” thì đều sai luật” (nguồn: báo Thanh Niên)

Nhà phê bình Nguyễn Hòa cũng khá nặng nề: “Dù tác giả làm nhiều bài thơ tứ tuyệt, hoặc ghép hai bài tứ tuyệt thành một bài thất ngôn bát cú cho có dáng dấp Đường luật, thì ngay cái việc cố gắng ép vần cũng đã đưa lại ý từ khôi hài…”

Trong khi nhiều nhà phê bình gọi Hoàng Quang Thuận là “dòng thơ thiền”, thì Nguyễn Hòa và Nguyên An gọi đó là loại thơ “vịnh cảnh”. Nguyễn Hòa cảnh báo: “Xin chớ nghĩ hễ trong bài thơ có hình ảnh chùa chiền, non cao, bóng núi, cây đa, mây trời, trăng treo, tiếng hạc… là bài thơ sẽ có chất thiền”.

Dù sao, vẫn thấy nhiều người ca bốc hơn chê. Hay tại thiên hạ vẫn quen nếp thấy “bất thường” tí là cười khẩy bỏ đi không thèm dây vào?

Hội nhà văn Việt Nam lại có vẻ như bắt được cái mạch thơ “thiên giáng” của Hoàng Quang Thuận. Chủ tịch hội, ông Hữu Thỉnh đã nhìn nhận thơ Hoàng Quang Thuận là “nghệ thuật cao nhất của thơ ca”. Đề cập tới bài “Am xưa”(Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc/Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm/Tiếng sáo thiền ca vui bất tận/Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng”, nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “Đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới”

Một đại hội thảo về “hiện tượng” thơ Hoàng Quang Thuận đã được Hội nhà văn Việt Nam tổ chức một cách kỳ công, như thể là bước chuẩn bị… thành kính làm bệ đỡ cho khát vọng Nobel của ông Thuận.

Cùng với nhà thơ Chủ tịch hội Hữu Thỉnh, rất rất nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu tên tuổi đều hết lời ngợi ca và tỏ ra thích thú với hiện tượng “thần phật linh ứng nhập hồn” biến một lão ông không hề biết làm thơ thành một “nhà thơ” kỳ bí cho nền thơ Việt.

Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên viết “Đối với Hoàng Quang Thuận, không có ma quỷ nào đưa lối dẫn đường cả, mà chỉ có thần, phật phù hộ độ trì từ khi ông phát tâm nguyện làm một đệ tử trung thành nơi cửa thiền, để rồi từ đấy những vần thơ thấm đẫm chất linh nghiệm báo ứng của tiền nhân hiện về”. Nhà phê bình Đặng Hiển lại cho rằng, nét đậm nhất của “Thi vân Yên Tử” là dấu tích của vua phật Trần Nhân Tông trên Yên Tử. Ông cũng nói thêm “nhưng đó là dấu tích trong lòng người, trong lòng thi nhân”. Nhà phê bình trẻ Thế Trung nhận xét, với hơn một trăm bài thơ, Hoàng Quang Thuận đã vẽ ra trước mắt người đọc một quang cảnh tuyệt mỹ của vùng núi mây Yên Tử, đồng thời được tìm về cội rễ của thiền phái Trúc Lâm. Thế Trung nói: “Thi vân Yên Tử” tập hợp những vần thơ vừa thanh tao, tĩnh lặng, vừa huyền diệu, xa vắng, mang nhiều hàm ý sâu xa, lại gần gũi với đời thường dễ dàng thấm sâu vào lòng người”. Đăng Lan lại cảm nhận: “Thi vân Yên Tử” – Bằng tâm hồn nhạy cảm, tứ thơ hiền hòa, thanh thoát, ám ảnh đậm chất biểu trưng nên tạo khởi rất nhanh, biến ảo trong cái thế giới liên tưởng trong tâm hồn người đọc. Nó là tiếng nói của cảnh giới xuất thế biểu hiện sự sâu lắng; nơi đây giáp mặt cả bốn bề tâm sự; lắng nghe, tỏ bày, đốn ngộ…”

Nhiều vị nhắc đến và đánh giá cao những câu thơ “thần” viết về Am Ngọa Vân của Hoàng Quang Thuận có tên “Am xưa” như nhà thơ Hữu Thỉnh, Trần Nhuận Minh, Hữu Việt, nhà phê bình Trần Thị Thanh, Ngô Hương Giang: Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc / Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm / Tiếng sáo thiền ca vui bất tận / Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng”.

Còn ông Dương Kỳ Anh, nhà thơ, cựu Tổng Biên tập báo Tiền Phong thì nhận xét đấy là “những câu thơ hay đến lạnh người”. (nguồn: evan. vnexpress.net)

Thậm chí (mô Phật!), nghe nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã bình thơ của nhà “thiên giáng” Hoàng Quang Thuận rằng “đọc những bài thơ hay đượm gió ngàn cao, thấm nguồn suối núi, những bài thơ của một con người đầy tư tưởng nhân văn”. (nguồn: báo điện tử đảng Cộng sản VN)

Còn tự ông Hoàng Quang Thuận nói về những bài thơ “tiên giáng” của mình thế nào?

Ông bảo “đó là tiền nhân mượn bút tôi viết thơ”. Phản ứng trước nhận xét của một số người cho rằng thơ ông chỉ là thể thơ du ký, loại tức cảnh sinh tình bình thường xuất hiện nhan nhản trong đời sống văn học hiện nay, ông Thuận nói: “Những bài thơ du ký là bài thơ làm về con người thực, địa danh thực do họ nhìn thấy, cảm thấy, còn tôi du ký trong một đêm sương gió, trong một đêm huyền ảo, du ký trong tâm tưởng. Nhiều địa danh xuất hiện trong thơ tôi ở Hoa Lư, Yên Tử sau đó các nhà sử học phải tìm lại, dân ở đó còn chả nhớ, phải tra lại mới ra, có chỗ phải dịch chữ Hán mới ra”.

Sau 2 sự kiện ly kỳ như ông kể, liệu “tiền nhân” có còn tiếp tục nhập hồn “mượn bút” ông viết thơ nữa không?

Ông Thuận bảo “Cái này không nói trước được. Phải có những thời khắc lịch sử nhất định, hòa hợp âm dương nhất định mới ra đời. Ví dụ như dịp tròn 700 năm vua Trần Nhân Tông về Yên Tử thì mới có “Thi vân Yên Tử”, dịp nghìn năm Thăng Long thì mới có “Hoa Lư thi tập”… (nguồn: phongdiep.net)

Thú thật, tôi không thể tin nổi vì sao thơ lại có thể “nhập” được vào một khuôn tạng như ông Thuận. Nhớ lại buổi gặp tình cờ ở cà phê Trúc Lâm Viên, hình dung lại cái khuôn mặt, cách tiếp chuyện khiến cứ phải liên tưởng đến… Đinh La Thăng! Ông Thăng cũng có làm thơ. Thơ ông được phổ nhạc, nhưng không dự Nobel, mặc dù ông Thăng vẫn có một khát vọng… Nobel khác! (xem “Đinh La Thăng và khát vọng Nobel”)

Cái tên Đinh La Thăng giờ nhiều người nghe là sợ. Sợ ổng lâu lâu nổi hứng nảy ra một “sáng kiến” thì dân tình méo mặt. Trước tôi chưa biết chưa nghe đến cái tên Hoàng Quang Thuận. Nhưng giờ đây ra đường, hễ cứ nghe ai nhắc đến Hoàng Quang Thuận là giật thót mình lui người lại.

Không biết bạn đọc đánh giá hiện tượng thơ “thiên giáng” và nhân vật Hoàng Quang Thuận ra sao, chứ tôi hoảng quá. Hoảng còn hơn cả khi nghe ông Hữu Thỉnh tuyên bố tổ chức đại lễ thơ, hoảng hơn cả khi nghe có ông đại biểu quốc hội đòi phải ban hành “luật thơ”, hoảng hơn cả khi nghe ai đó đề xướng ý tưởng đòi UNESCO công nhận Việt Nam là… cường quốc thơ!

Thương thay cái dân tộc của tôi. Một dân tộc mà ai ai cũng làm thơ, toàn dân làm thơ, toàn dân thành nhà thơ. Có lẽ đây chính là một biểu hiện bất thường trong tâm sinh lý và tư duy của người Việt. Vì thế, trong hàng triệu triệu nhà thơ, bỗng hôm nào đó một vài vị bỗng dưng được rắn-phụng-chuột-mèo-chó-chim nhập hồn, hóa thành thần nhập thiên giáng như “hiện tượng” thơ Hoàng Quang Thuận cũng là điều dễ hiểu.

Chỉ có điều cứ nghe nhắc là phản xạ giật thót mình lui người lại như phải tránh một cái điều gì đó rất vô hình, vớ vẩn, mông lung.

PHÁT HIỆN ĐỘNG TRỜI “THI VÂN YÊN TỬ” CỦA GS TS HOÀNG QUANG THUẬN BÍ MẬT ĐẠO VĂN TỪ MỘT CUỐN SÁCH!?

Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.
Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.

“THI VÂN YÊN TỬ” ĐƯỢC SAO CHÉP TỪ ĐÂU?

Tôi quen anh Hoàng Quang Thuận đến hay cũng gần hai mươi năm, đã từng cùng nhau đi chùa dâng hương lễ Phật. Một sự trùng hợp thật ngẫu nhiên, hai cặp vợ chồng chúng tôi đều cùng tuổi Quý Tị và Giáp ngọ. Thời đó, hai gia đình thường gặp nhau. Đã lâu lắm, do bận công việc nên không gặp nhau nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ về anh, như một người bạn tâm tình.

Khi anh viết xong và đem in 63 bài thơ trong tập ‘Thi vân Yên tử”, anh có nói chuyện với tôi về căn nguyên ra đời của các bài thơ ấy. Tôi cũng tin như vậy, vì tôi là người tin vào tâm linh, một niềm tin tự nhiên từ máu thịt của mình. Từ niềm tin ấy, tôi đã vô tư quảng bá tập thơ “Thi vân Yên Tử” với sự ra đời đặc biệt của nó với bạn bè. Nhưng hầu như, ai được tôi thông tin cũng chỉ cười mà không nói gì.

Tình cờ, khi lên Yên Tử, tôi vào quầy sách của Ban quản lý, thấy cuốn “CHÙA YÊN TỬ, LỊCH SỬ – TRUYỀN THUYẾT DI TÍCH VÀ DANH THẮNG” của tác giả Trần Trương, Trưởng Ban quản lý Yên Tử (1992-2003), tôi đã đọc ngấu nghiến bởi sự thôi thúc của tâm linh, một niềm tin bất diệt vào sự hiển linh của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Người Anh Hùng dân tộc và Đệ Nhất Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Đọc xong cuốn sách, tự nhiên tôi có liên tưởng đến 63 bài thơ “Thiền” của anh Hoàng Quang Thuận và thật ngẫu nhiên, tôi phát hiện ra trong hầu hết các bài thơ anh Thuận viết, đều lấy từ nội dung cuốn sách này, thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương. Tôi sững người và liên tưởng tới điều anh Thuận nói về xuất xứ của 63 bài thơ được anh viết trong ba đêm với trạng thái như “nhập đồng”, như có “ai” đó, từ cõi cao xanh thúc giục anh phải viết. Tuy nhiên, vì là bạn bè, nên tôi cũng không nỡ trao đổi với anh, e anh tự ái rồi giận tôi. Vả lại, tôi coi đó là một niềm vui riêng của anh, niềm vui có thể chia sẻ trong phạm vi bạn bè, chẳng ảnh hưởng gì đến nhân tình thế thái. Thế rồi, năm tháng trôi qua, do bận công việc, tôi cũng không còn để ý đến điều đó nữa.

Mấy ngày gần đây, tôi được biết Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” đã thu hút rất nhiều người quan tâm đến dự. Có nhiều ý kiến xung quanh hiện tượng này với các lời khen, chê khác nhau. Đặc biệt, tôi được biết anh Hoàng Quang Thuận đã khiêm tốn mà nói rằng : Anh không phải là tác giả của hai tập thơ mà “đó là do tiền nhân mượn bút tôi để viết thơ”. Tôi hiểu rằng, theo anh Thuận, tập thơ THI VÂN YÊN TỬ” gồm 63 bài đó không phải là của anh, mà là của “tiền nhân”. Tôi không dám khẳng định “tiền nhân” theo anh nói, có phải là Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông không? Tôi còn biết người ta đã giúp anh nộp hồ sơ những tập thơ “nhập đồng” của anh để tham gia dự Giải Noben văn chương nữa ! Điều này đã khiến tôi giật mình một lần nữa vì điều tôi cho là bình thường đã vượt qua cái ngưỡng bình thường của nó mất rồi.
Tôi đã bình tâm suy ngẫm mấy ngày nay để tìm cách xử xự thế nào cho hợp lẽ, hợp tình. Trong tôi, có hai luồng tư tưởng ám ảnh : Một là, về đời thực, nếu im lặng thì sẽ giữ được tình bạn với Hoàng Quang Thuận; và hai là, tôi sợ, nếu sự thật như tôi phân tích dưới đây, thì anh Hoàng Quang Thuận đã có một hành vi mà tự thân anh ấy sẽ phải lãnh theo luật Nhân – Quả của Nhà Phật. Tôi không dám khẳng định điều gì, nhưng nếu như sự thật là không có một “tiền nhân” nào mượn bút anh để viết thơ như anh nói, mà chỉ do anh biên soạn lại thành thơ từ nội dung cuốn sách “ Chùa Yên Tử, Lịch sử – Truyền thuyết di tích và Danh thắng”, thì Nam-Mô-A-Di-Dà-Phật, anh Thuận đã tạo một NGHIỆP rất nặng nề, cần phải hồi tâm mới mong có thể chuyển được.

Tôi lục trong tủ sách gia đình để tìm cuốn sách “Chùa Yên tử, Lịch sử – Truyền thuyết di tích và Danh thắng” xuất bản lần đầu tiên, từ trước khi Anh Hoàng Quang Thuận viết 63 bài thơ gọi là “Thiền”. Thật tiếc, cuốn sách ấy đã bị thất lạc, chỉ còn cuốn được tái bản lần thứ tư do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản vào Quý 2/2005. Tôi đành phải sử dụng cuốn này vậy. Cuốn sách của Trần Trương gồm có Lời nói đầu và ba chương. Chương 1 : Đường về Cõi Phật. Chương 2: Bầu trời cảnh Bụt; và Chương 3 : Ông Vua hóa Phật. Toàn bộ cuốn sách gồm có 21 bài viết giới thiệu, miêu tả về các sự kiện lịch sử, những địa danh, cảnh vật, chùa chiền trong hệ thống Danh sơn Yên Tử để giúp người hành hương tìm hiểu nơi mình đến dâng hương lễ Phật.

Với tấm lòng chân thành đó, tôi quyết định viết bài này để hầu mong góp phần làm sáng tỏ sự thật về tập thơ “nhập đồng” của anh. Nếu anh Thuận đọc mà buồn hoặc giận dữ thì tôi thành tâm tạ lỗi. Nhưng dù thế nào, tôi cũng mong anh đọc và suy nghĩ để cảm nhận được động cơ, mục đích viết bài của tôi, chỉ mong anh hiểu rằng, tôi viết với một cái tâm trong sáng, cái TÂM của một NGƯỜI THEO ĐẠO PHẬT, để giúp anh.

Tôi dùng phương pháp so sánh để chứng minh suy nghĩ của tôi, rằng : những bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận có xuất xứ từ cuốn sách nói trên của tác giả Trần Trương, chứ không phải là thơ “nhập đồng”. Tôi chỉ chọn một số bài trong tập thơ để so sánh và xin dẫn chiếu đến người đọc, nếu ai quan tâm thì tìm cuốn sách đó để so sánh các bài khác cho đầy đủ. Cách so sánh của tôi là : Nêu những đoạn văn trong cuốn sách của tác giả Trần Trương, sau đó là bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận trong tập “Thi vân Yên Tử” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, xuất bản tháng 3/1998 để người đọc cùng suy ngẫm.

1. Trang 20-21 cuốn sách của Trần Trương (sau đây gọi tắt là cuốn sách) viết :
“ Hồ Yên Trung nằm ở ngang lưng núi. Hồ rộng hàng ngàn mẫu, nằm lọt giữa bốn bề núi biếc. Nước từ khe suối đổ về. Đôi gò bồng đảo bập bềnh trên sóng nước giữa hồ. Bồng đảo phủ đầy thông… Thỉnh thoảng, một vài chú cá to phởn chí, tung mình lên cao rồi rơi xuống, tạo thành quần sóng lan xa, lan xa mãi.
Ở một góc hồ, thấp thoáng trong khe núi, bầy le le, vịt trời vui đùa nhau, tung cánh… Những đêm trăng sáng, lòng hồ đầy ánh trăng. Bốn bề im ắng, chỉ nghe tiếng chim gù trên núi. Thực là một bức tranh sơn thủy hữu tình… Hồ Yên Trung – Nàng Công Chúa Ngủ Quên nay đã thức… Tạo hóa khéo bày tuyệt tác của thiên thiên. Được kết tụ bởi mây trời non nước thanh hương sắc con người. Nàng vô tư không một chút ưu phiền”.

Trong bài thơ “Hồ Yên Trung” (trang 15), anh Thuận viết :
Yên Trung vắt vẻo ngang lưng núi
Bốn bề mây biếc sóng lô xô
Đôi bồng đảo bập bềnh trên sóng
Cả rừng thông xao động mặt hồ”.

Tạo hóa bày tuyệt tác thiên nhiên
Kết tụ bởi mây trời non nước
Nàng vô tư không chút ưu phiền
Ngắm sao trời đầu gối Hoa Yên.
– Trong bài “Đêm hồ Yên Tử” (trang 17), anh Thuận viết :
Cát vàng thoai thoải sóng lao xao
Cá to phởn chí nhảy lên cao
Le le xanh biếc đùa tung cánh
Chim gù trên núi cảnh tiêu dao

Sơn thủy hữu tình động tiên đào
Lạc đường Lưu – Nguyễn đếm trời sao
Lòng hồ đầy ắp đêm trăng sáng
Vua Trần thưởng nguyệt, nhớ năm nào.

2. Trang 24, cuốn sách viết :
“ Đến hẻm núi kia có ba tên cướp nhảy ra chặn đường, vua Trần khoan thai ra hiệu cho Bảo Sái cho chúng vài lạng bạc, cả suất cơm chay để độ đường. Đoạn ngồi trên mình ngựa, Ngài thuyết giáo, thức tỉnh từ tâm, đoạn trừ tam độc trong lòng chúng…
… Cả ba quỳ sụp xuống lạy tạ và hứa rằng “ sẽ trở về lương thiện làm ăn”. Kể từ ngày đó, chúng bỏ nghề đao búa, chăm chỉ nghề nông, siêng làm công đức xây dựng chùa miếu, trở thành các tín đồ ngoan đạo của Trúc Lâm. Và từ độ ấy, nạn cướp nơi đây được tiệt trừ. Con đường dốc gập ghềnh nơi hẻm núi, kẻ lại người qua được bình an”.

Trong bài “Kẻ cướp chắn đường” (trang 19), anh Thuận viết :
Ba tên kẻ cướp nhảy chắn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương

Bỏ nghề đao búa thiện giáo đường
Sơn lâm từ ấy hết tai ương
Gập gềnh hẻm núi người qua lại
Bình an vô sự hết đạo cường”.

3. Trang 29, cuốn sách viết :
“ Trưa hè oi ả. Tiếng suối mùa mưa reo réo rắt hòa với tiếng chim rừng ca lảnh lót. Hoa rừng muôn sắc tỏa hương theo gió thơm ngào ngạt. Bụi đường trường quyện lẫn mồ hôi khiến cả hai bức bối. Vua Trần đóng khố, nhoài mình nơi dòng nước trong xanh. Dòng suối cuốn trôi bụi trần ra sông biển. Kể từ dịp ấy, suối được đặt tên : Suối Vua Tắm”.

Trong bài “Suối Tắm” (trang 20), anh Thuận viết :
Trưa hè oi ả tiếng suối reo
Chim ca lảnh lót giữa lưng đèo
Hoa rừng hương sắc hương theo gió
Đàn cá xuôi dòng nước trong veo”.

4.Trang 34, cuốn sách viết :
“ Phía bên kia cầu là cổng tam quan, dáng vẻ cổ kính, đắp nổi đôi câu đổi viết theo chữ thảo “Cổ tự lưu danh Linh Nhâm Tự”… Xung quanh chùa xum xuê cây trái. Quả trứng gà sai chíu chít vàng ươm. Quả hồng đỏ thắm như hàng trăm chiếc đèn lồng treo lơ lửng. Quả mận tím trĩu cành lúc lỉu… Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Linh Nhâm là tên của một vị Thiền sư đã được Tổ Trúc Lâm giao xây dựng ngôi chùa và nhiều năm trụ trì ở chùa này. Tên của Thiền sư được đặt tên cho chùa…”.

Trong bài “Chùa Cầm Thực” (trang 26), anh Thuận viết :
Tam quan đắp nổi Linh Nham Tự
Thiền sư có phải đặt tên thầy
Mận chín trĩu cành lúc lỉu quả
Trứng gà chiu chít cả trong mây

Linh Nham đâu khác nơi tiên cảnh
Hồng đỏ như trăm đèn lồng cầy…

5. Trang 40, cuốn sách viết :
“ Thưở xưa, cánh đồng Nam Mẫu nước ngập trắng. Từ dốc Quàng Hái, muốn vào Yên Tử, phải đi bè mà vào. Hay tin Vua Trần vào Yên Tử, các cung tần mĩ nữ của triều đình đã tìm về, gặp Vua ở tại con dốc này. Họ than khóc thảm thiết, xin Vua quay trở lại triều đình… Vua cho lập đàn tràng cầu Phật Tổ Như Lai. Vài ngày sau, nước ở hồ Nam Mẫu rút hết. Lòng hồ phơi ra, khá bằng phẳng. Đất nơi đáy hồ thật màu mỡ. Dân bản ùa ra bắt tôm, cá, khai khẩn bãi hoang, thành ruộng vườn. Cánh đồng Nam Mẫu được khai sinh”.

Trong bài “Làng Cung Nữ” (trang 28), anh Thuận viết :
Làng Mụ, Làng Nương đường Nam Mẫu
Xưa kia nước ngập trắng lòng hồ
Vua Trần thương xót đoàn cung nữ
Lòng trung không trở lại kinh đô

Vua lập đàn cầu Phật Như Lai
Nước hồ rút hết ruộng đất dài
Đáy hồ mầu mỡ – tôm cùng cá
Làng Mụ, làng Nương được sinh khai.

6. Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.

6. Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.

7. Trang 79-80-82, cuốn sách viết :
“ Hãy vào Lăng Quy Đức. Lăng quây bốn mặt thành vuông vức, bao quanh ngôi tháp cổ… Mái tường lăng lợp bằng ngói mũi hài, đổ về hai phía, dáng cong theo dáng mái chùa…Mặt ngoài các tảng đá chạm nổi hoa văn sóng nước hình quả núi, đường nét cách điệu uốn lượn rất tinh tế…Bệ tháp tạo nên bởi hàng chục phiến đá xanh ghép lại…Tầng đầu mở hướng chính nam, bên trong thờ tượng Trần Nhân Tông ngồi thiền ở thế liên hoa, vẻ mặt dung dị, cảm thông, thanh cao và trí huệ… Thi thoảng vẫn thấy xuất hiện cặp rắn đen nằm chầu bên tượng Tổ trong tháp. Trông thấy bóng người, rắn thu mình ẩn núp vào trong… Bốn cây đại cổ, thân dáng hình rồng đứng nép sau tường Lăng Quy Đức, lá rủ vào sân lăng. Cành đại trổ đầy hoa. Hương hoa thơm ngào ngạt. Cánh hoa rắc vàng sân mộ Tổ”.

Trong bài “Lăng Quy Đức (trang 43), anh Thuận viết :
Lăng quây vuông vức bốn mặt thành
Ngói hài hai phía dáng thanh thanh
Mặt ngoài đá chạm hoa văn sóng
Bệ tháp nằm trên phiến đá xanh

Tầng đầu mở cửa hướng chánh nam
Vua Trần nhập diệt cõi Niết Bàn
Rắn đen một cặp chầu bên tượng
Nền Lăng xưa chính Ngọa Vân am.

Hai cây đại cổ dáng hình rồng
Đứng nép bên tường đã trổ bông
Hương hoa thơm nát vườn mộ Tổ
Ngày xưa Tam tổ đã vun trồng

8. Trang 84, cuốn sách viết :
“ Những đêm trăng sáng, bên tháp ngắm trăng thật thú vị. Trăng treo trên cành Tùng. Trăng rắc vàng trên cánh hoa Đại sực nức hương và đính hạt sương đêm. Trăng gắn váo đỉnh Tháp . Mỗi bước trăng trôi, cảnh vật nơi đây lung linh huyền ảo”.

Bài “Trăng Yên Tử (trang 46), anh Thuận viết :
Trăng treo lơ lửng trên cành Tùng
Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung
Sương đêm sực nức mùi hoa đại
Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng

Lung linh huyền ảo ánh trăng rơi
Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời…

9. Trang 98, cuốn sách viết :
“Trong ngách hang, có một núm đá, nước nhỏ tí tách từng giọt một, cả đêm chưa đầy một bát con. Nhà sư gọi đó là sữa mẹ. Một điều kì lạ : Khi bát nước đầy, từ núm không nhỏ thêm giọt nào nữa. Nền chùa sạch khô không giọt nước thừa tràn”.

Trong bài “Sữa mẹ” (trang 52), anh Thuận viết :
Ngách hang núi đá núm vú con
Sữa mẹ linh thiêng nhỏ giọt tràn
Nhỏ dần từng giọt đêm đầy bát
Nước đầy chỉ một bát con con.

10. Trang 103, cuốn sách viết :
“ Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa. ngày nay, các “ông” Rồng xanh thi thoảng lại xuất hiện… Những lúc trở trời, các “ông” bò ra nằm la liệt… Một con rắn lớn từ xà ngang buông mình xuống ban thờ, náu mình vào Tượng Phật nhìn ra”.

Trong bài “Rắn xanh Yên Tử” (trang 31), anh Thuận viết :
Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa
Rồng xanh thi thoảng nghỉ trên bàn
Mấy ông rắn lớn nằm trên mái
Náu mình tượng Phật ngắm giang san.

11. Trang 108, cuốn sách viết :
“Quanh am là rừng trúc bạt ngàn. Trúc chen nhau mọc dưới tán lá của rừng cây cổ thụ. Trúc lách qua kẽ đá nền am, vươn lên những đọt măng mập mạp. Đây là phế tích Am Thiền Định. Xưa chưa dựng chùa, các nhà sư tu hành nơi am cỏ, hòa mình với chim muông, với thiên nhiên hoang dã”.

Trong bài “Am xưa” (trang 58), anh Thuận viết :
Trúc lách qua kẽ đá nền am
Đọt măng mập mạp giữa đá vàng
Bạt ngàn trúc biếc chen hoa nở
Gió thổi lau thưa vọng tiếng đàn.

12. Trang 110, cuốn sách viết :
“Thác vàng còn lớn gấp bội phần. Vách đá cao dốc đứng. Nước từ đỉnh dốc tuôn trắng xóa, khác nào dải lụa khổng lồ. Ngọn nước như từ trời đổ xuống. Cây rừng khép tán, đứng dưới chân thác ngước nhìn lên, ta chỉ thấy mảnh trời trên ngọn tháp. Nhà văn Vũ Khai đặt tên cho thác là “Thiên Thủy” (nước trời). Với Thác Vàng, nước không hề khô cạn”.

Trong bài “Thác Vàng” (trang 54), anh Thuận viết :
Ngọn nước như từ trời đổ xuống
Cây rừng khép tán nép bên khe
Mảnh trời ngọn tháp thiên thu thủy
Đâu biết nơi đây có nắng hè.

13. Trang 111, cuốn sách viết :
“ Rừng ở đây nguyên sơ và tuyệt đẹp. Cây cổ thụ vươn cao, xòe tán rộng. Rừng già âmn u. Ánh nắng mặt trời không lọt rơi xuống đất…Dây leo chằng chịt, vắt từ cây này sang cây kia. Một thế giới chim muông, hoa lá dần hiện ra…. Cành khô kêu răng rắc dưới chân. Hương cây, lá mục nồng ngai ngái. Trên đường, từng đoạn lại thấy cây Tùng cổ, như thể người xưa đánh dấu đường”.

Trong bài “Đường rừng” (trang 22), anh Thuận viết :
“ Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chim rừng líu lót với hương trời.

Cây khô răng rắc dưới chân đi
Lá mục nồng ngai hoa từ bi
Trên đường lác đác cây tùng cổ
Thợ trời khéo đặt cảnh thiên trì.

14. Trang 126, cuốn sách viết :
“ Gọi là chùa Vân Tiêu, bởi chùa tọa lạc trên triền núi phía Tây dãy Yên Tử. Dãy núi như trường thành chắn ngang luồng gió biển thổi vào. Hơi nước tới đây, ngưng đọng lại thành mây. Mây, gió bị chắn ở sườn Nam, được thoát ra nơi triền núi phía Tây. Mây trôi lờ lững trên triền non Yên Tử, tới đây lập tức bị tiêu tan. Nên dù ở gần đỉnh núi, chùa Vân Tiêu ít khi bị mây mù che phủ, khác hẳn chùa Bảo Sái ở cùng một độ cao. Ở nơi mây cứ đến là tan, nên chùa mang tên là Vân Tiêu… Phía trước cửa chùa là vườn tháp chín tầng, giống như Hòn Ngọc… Cả khối nặng tòa tháp đè lên lưng của một ông rùa đá to lớn…”.

Trong bài Chùa Vân Tiêu (trang 50), anh Thuận viết :
Vân Tiêu quay hướng phía Tây phương
Dãy núi Yên Tử án thành đường
Mây trôi lờ lững trên Yên Tử
Tùng xanh lãng đãng bóng trong sương

Mây đến Vân Tiêu mây tự tan
Chín tầng chùa tháp giữa non ngàn
Im lìm trên một ông rùa đá
Hoa cười rung cánh khóm địa lan.

15. Trang 135, cuốn sách viết :
“ Chóp núi cách tượng An Kỳ Sinh 721 mét, ban đầu, đường đi trên núi khá bằng phẳng, qua một vạt rừng cây lúp xúp, một vạt rừng cây cảnh tự nhiên, chỉ cao hơn đầu người một chút, gốc rễ còi cọc, cong queo và mốc thếch, tô điểm những đóa hoa trà mi, hoa trứng gà, hoa mai…muôn hồng nghìn tía… Chếch về phía phải, có một vạt cây rừng sú, vẹt. Thật kỳ lạ : Sú vẹt ở bờ sông lại ngự trên đỉnh núi (!). Những chú ốc sên, những chú còng… ẩn mình trong kẽ đá suốt mùa đông, chỉ đợi xuân sang là xuất hiện. chúng biến nơi đây thành vương quốc riêng, xa cách cõi trần nơi bờ sông bãi sú.

Qua khỏi vạt cây là bãi đá. Dọc sống núi cơ man nào là đá. Những phiến đá nhỏ, to, cao, thấp thiên hình vạn trạng. Đá xếp thành bậc thang nâng bước chân du khách. Có những phiến đá giống như bầy cá Sấu nằm trườn ườn phơi nắng, xen lẫn với cá voi, éch ộp, thờn bơn…Dưới chân chùa Đồng, ngổn ngang xếp những tảng đá lớn vuông vức như quân cờ. Lưng đá hằn sâu ngấn sóng nước. Những vỏ sò, vỏ ốc hóa thạch còn lưu trong kẽ đá. Đã một thời, đỉnh ngọn Yên Sơn là bờ biển. Trải qua kỳ kiến tạo vỏ trái đất cách đây hàng triệu năm, bờ bể lại trở thành chóp núi. Và đỉnh Yên Sơn đã trở thành một bảo tàng tự nhiên lưu dấu tích sự đồi thay dâu bể thời Hồng hoang”.

Trong bài “Đỉnh non thiêng” (trang 70), anh Thuận viết :
Yên Sơn tô điểm đóa trà mi
Sú vẹt non cao thật dị kỳ
Ốc, còng, sên nhỏ nằm trong đá
Quốc vương xa lánh cõi trần bi

Bậc đá làm thang giỏi thợ trời
Đá hình cá sấu nằm chơi vơi
Cá voi, éch ộp, thờn bơn dẹt
Biển cả – đại dương giữa lưng trời

Có lẽ ngày xưa thưở hồng hoang
Yên Sơn bể biếc của kim hoàng
Trải bao biến địa sông thành núi
Đỉnh Yên nay thành một bảo tàng

16. Trang 143 – 144, cuốn sách viết :
“Trên non Yên Tử, vào ngày trời quang, phóng tầm mắt tới chân trời xa tắp : Một vùng đồi núi nhấp nhô như sóng, lúp xúp dưới chân ta. Thị xã Uông Bí, mỏ than Vàng Danh, vùng Tràng Lương Đông Triều và Hà Bắc hiện ra như bức tranh thủy mạc. Xa xa, Vịnh Hạ Long xanh xanh mờ vệt đảo. Mặt Vịnh lung linh dưới ánh mặt trời. Dòng sông Bạch Đằng in bóng núi Tràng Kênh…Gió lùa vào kẽ đá, phát ra muôn tiếng nhạc bổng trầm. Giữa khung cảnh đất trời kỳ vĩ và ngoạn mục, du khách xốn xang đến khó tả. Tâm hồn nhẹ nhỏm và thanh thoát. Bao nỗi ưu phiền trần tục được tiêu tan. Cảm giác kỳ diệu ấy, chỉ khi lên chùa Đồng mới có”.

Trong bài “Trời quang Yên Tử” (trang 71), anh Thuận viết :
Trên non Yên Tử ngày trời quang
Bức tranh thủy mặc dưới nắng vàng
Nhấp nhô như sóng triền đồi núi
Xa xa một dãy Bạch Đằng Giang

Trời đất kỳ vĩ lòng xôn xang
Gió reo thánh thót những cung đàn
Chùa Đồng Yên Tử trời đất Phật
Ưu phiền trần tục thảy tiêu tan. …

Tôi chỉ xin trích dẫn để so sánh một số bài như trên, còn nhiều bài thơ khác cũng có nội dung tương tự với các bài trong cuốn sách của Trần Trương. Trong số 63 bài, tôi kiểm lại thì thấy có một số bài không có liên quan gì tới cuốn sách. Cụ thể là các bài : Xúc cảm non thiêng; Cô chú thăm Yên Tử; Vân du Yên Tử; Nghỉ lại chùa Yên; Kim xà; Ân hận; Tặng sư thầy, là do anh Thuận cảm tác mà viết ra.

Từ những so sánh trên, tôi có thể suy luận rằng : Tập thơ “Thi Vân Yên Tử” của anh Hoàng Quang Thuận không phải là thơ “nhập đồng”, cũng không phải là “thơ Thiền” mà có xuất xứ từ cuốn sách của tác giả Trần Trương. Vì những bài thơ ấy thuần túy chỉ là tả cảnh vật qua con mắt của người phàm trần. Nếu thơ “nhập đồng” sẽ có giọng thơ khác, thâm linh, huyền bí và mang hồn cách của “người nhập”.
Những so sánh trên đã cho thấy, từ những bài viết trong cuốn sách của Trần Trương, anh Thuận đã có cảm xúc và dùng năng khiếu thơ của mình viết lại thành các bài thơ. Có thể trong ba đêm, nguồn cảm xúc từ cảnh vật thật, từ tấm lòng thành kính đối với Tam tổ Trúc Lâm và Danh sơn Yên Tử, lại được thông tin từ cuốn sách của Trần Trương, anh đã thành tâm viết nên 63 bài thơ ấy, để ghi lại cảm xúc của mình. Tôi chắc khi đó, anh chưa hề nghĩ đến việc quảng bá cho những bài thơ này theo hướng “nhập đồng” hoặc “thơ thiền”. Có lẽ, những tán dương sau này của nhiều người quá thái, đã khiến anh say sưa với ý tưởng ấy và thổi vào đó yếu tố tâm linh, huyền bí, càng về sau càng mãnh liệt như chúng ta đã thấy diễn biến của “Thi Vân Yên Tử” từ đó đến nay.

Để kết thúc, tôi xin xác quyết một điều rằng : Tôi viết bài này chỉ với một cái tâm trong sáng của một phật tử có pháp danh là THIỆN HÒA, hầu mong anh Thuận sẽ đọc và suy ngẫm về những điều đã làm, để trả về cho “Thi Vân Yên Tử” đúng giá trị của nó. Đó là điều tôi quan niệm rằng : đã giúp anh, vì tôi vẫn là người – bạn – của – anh !

TP. Hồ Chí Minh, 02 giờ đêm ngày 12 tháng 8 năm 2012
NGUYỄN MINH TÂM

Lỡ mà đoạt giải Nobel?

Nhân vật “hot” nhất trong làng văn tuần rồi, có lẽ là ông Hoàng Quang Thuận (sinh năm 1953, hội viên hội Nhà văn Việt Nam năm 2011, hiện là viện trưởng viện Công nghệ viễn thông, thuộc viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) với hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” do tạp chí Nhà Văn (hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức ngày 8.8 tại Hà Nội.

Mấy năm gần đây, Hoàng Quang Thuận nổi danh như một người làm thơ thiền. Sự việc lạ lùng được nhắc lại trong hội thảo là cách đây 15 năm (1997), Hoàng Quang Thuận đến Yên Tử, chỉ trong vòng ba đêm ông đã viết được 63 bài thơ, sau đó in thành tập Thi vân Yên Tử.

Năm 2000, Hoàng Quang Thuận cho ra mắt tập Ngoạ vân Yên Tử với 80 bài. Nhưng việc làm thơ của viện trưởng càng lạ lùng theo tường thuật của một số báo: ngày 4.4.2010, ông Thuận dâng hương tại một “đàn cầu thơ” ở vùng cố đô Hoa Lư (Ninh Bình). Trong vòng từ bốn giờ tới lúc mờ sáng, ông Thuận sau một làn gió lạnh đã “nhập đồng thơ” viết như người mộng du liên tục 121 bài thơ! Số thơ này được Hoàng Quang Thuận in thành Hoa Lư thi tập, về sau gộp với Thi vân Yên Tử và Ngoạ vân Yên Tử mà thành Thi vân Yên Tử in tam ngữ Anh – Pháp – Việt (NXB Giáo Dục 2010; Thái Bá Tân chuyển ngữ tiếng Anh, Hoàng Hữu Đản chuyển ngữ tiếng Pháp). Hoàng Quang Thuận cũng đã gửi tập thơ này cho nhiều nguyên thủ quốc gia và viện Hàn lâm Thuỵ Điển để xét giải Nobel Văn chương! Xin ngẫu nhiên dẫn ra đây một bài trong tập đã gửi xét giải Nobel để bạn đọc thưởng thức:

Đạt Ma sư tổ nhắm mắt thiền
Thiện nam tín nữ có kiếp duyên
Phổ độ chúng sinh từ bao kiếp
Đền thiêng ngài ngự ở bên thềm (bài Đạt Ma 1).

Phát biểu tại hội thảo, khi nhắc lại việc trong vòng vài giờ “phóng bút” viết 121 bài thơ, ông Thuận cho rằng “nếu nhận mình là tác giả thì sẽ có tội, bởi đây không phải là những bài thơ thông thường, mà có lẽ tiền nhân mượn bút tôi để viết”! Nghĩa là đã có hiện tượng “nhập đồng thơ”?

Thiền – tục, hay – dở, nóng – lạnh… là chuyện còn phải bàn dông dài. Nhưng sự việc một người tự cho là không chuyên nghiệp về thơ, trong vài giờ viết đến hơn trăm câu thơ, khiến nhiều người (trong đó có các nhà thơ chuyên nghiệp) mắt tròn mắt dẹt. “Nếu như có người đọc cho, chỉ chép thôi thì cũng không chắc kịp” – một nhà thơ lắc đầu. Và, có người lại thắc mắc: “Nếu như tiền nhân mượn bút thì cùng lắm chỉ viết vài câu, vài bài đắc địa, đằng này viết hơn cả trăm, hoá ra tiền nhân này cũng… chạy đua về số lượng?” Trên một số diễn đàn mạng, những ý kiến xung quanh vụ “nhập đồng thơ” này còn rôm rả hơn nhiều.

Riêng người viết bài này chỉ dám trình ra một băn khoăn nho nhỏ: viện trưởng Hoàng Quang Thuận bảo tiền nhân mượn bút mình làm thơ, nghĩa là đã có một đồng tác giả dù là… hư ảo. Vậy lỡ tập thơ này được trao giải Nobel thì việc “chia chác”, “cúng dường” sẽ tính thế nào?

Theo Sài Gòn Tiếp Thị

Lẽ ra phải nói rõ “Thi vân Yên Tử” là phóng tác

(TT&VH) – LTS: Nghi án tập Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận “đạo văn” đã làm xôn xao dư luận trong mấy ngày nay, nhất là khi một cuộc tọa đàm về tác phẩm này do Tạp chí Nhà văn tổ chức ngay tại trụ sở của Hội Nhà văn VN, khiến nhiều người cho rằng đã làm “mất thiêng” trụ sở Hội. Sự việc đó nóng đến mức, hôm 16/8, Ban Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam đã có cuộc họp và ra thông báo về vấn đề này.

Để rộng đường dư luận, TT&VH xin giới thiệu bài viết của nhà phê bình Nguyễn Hòa.

1. Mấy năm trước, hầu như ông Hoàng Quang Thuận chưa được chú ý trên văn đàn, dù một số bài thơ có nguồn gốc kỳ bí của ông và những lời ngợi ca “có cánh” của một số tác giả đã được công bố. Phải chăng vì cái gọi là thơ của ông không có gì đặc sắc, phải chăng vì “huyền thoại” gắn liền với sự ra đời các bài thơ do chính ông kể ra đã khiến người ta cười mỉm?

Ấy vậy mà sau ngày Tạp chí Nhà văn (lưu ý: không phải Hội Nhà văn Việt Nam) tổ chức cuộc tọa đàm Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử thì tên tuổi của ông bỗng “nổi như cồn”, nhưng là “nổi” theo một chiều hướng kỳ quặc. Cuộc tọa đàm với nhiều bản tụng ca đã làm cho nhiều đồng nghiệp nghi ngờ và lập tức, Hoàng Quang Thuận cùng thơ của ông nhanh chóng trở thành một “hiện tượng” làm tốn giấy mực.

Tập thơ Thi vân Yên Tử

Trong bối cảnh một đời sống văn học phức tạp như lâu nay, thì với các tác giả như Hoàng Quang Thuận, chỉ cần đọc năm bảy bài là hiểu rõ tài năng, bút lực của tác giả như thế nào. Điều đáng khâm phục là một số tác giả lại đọc ra được những điều kỳ diệu như “chất thiền”, “nghệ thuật Đường thi”… từ mấy bài thơ mang dấu ấn cảm tác, lại trúc trắc về vần điệu, ý tứ… Kỳ lạ hơn nữa, dường như có người đã đặt niềm tin vào mấy điều kỳ bí do Hoàng Quang Thuận kể ra, để từ đó run rẩy cứ như là “thần phật” đã hiện hữu qua Thi vân Yên Tử và hậu thế là người trần mắt thịt chỉ có thể “kính nhi viễn chi”, không được buông lời chê trách!?

2. Thế rồi, tất cả bỗng rối tung sau khi LS Nguyễn Minh Tâm công bố bài Thi vân Yên Tử được sao chép từ đâu?. Và từ sự xác thực của nó, có thể đặt niềm tin vào những dẫn dụ của Nguyễn Minh Tâm. Những dẫn dụ đó đủ sức chứng minh chẳng có “tiền nhân” nào mượn bút Hoàng Quang Thuận để “viết thơ” như người ta nói, chỉ có một sự thật là Hoàng Quang Thuận đã dựa vào cuốn sách của Trần Trương để phóng tác.

Giả dụ LS Nguyễn Minh Tâm không công bố xuất xứ các bài thơ về Yên Tử của Hoàng Quang Thuận, chắc chắn sự hồ nghi sẽ còn đeo bám dư luận rằng Hoàng Quang Thuận “được “tiền nhân” mượn bút”.

Việc các bài thơ về Yên Tử của ông Hoàng Quang Thuận chủ yếu dựa theo cuốn sách Chùa Yên Tử, lịch sử – truyền thuyết di tích và danh thắng để viết thành thơ (hay văn vần?), tự nó cho thấy sự vắng bóng của “tiền nhân”; đồng thời cũng cho thấy ông Hoàng Quang Thuận đã làm công việc phóng tác, chuyển thể. Lẽ ra ông Hoàng Quang Thuận phải cho công chúng biết trước việc ông dựa vào tác phẩm của Trần Trương để làm thơ. Nói cách khác, ông cần phải giới thiệu rõ tác phẩm gốc để người đọc có thể căn cứ vào đó đánh giá ông có đóng góp gì mới, có làm cho tác phẩm của Trần Trương hấp dẫn hơn không…

Với ông Trần Trương cũng vậy, dẫu ông bênh vực với lời khẳng định: “Thi vân Yên Tử không phải là đạo văn!”, nhưng ông Trần Trương sẽ trả lời sao đây khi nhiều câu chữ của ông hiển hiện rõ rành trong nhiều bài thơ của Hoàng Quang Thuận?

3. Vài năm gần đây, trong sinh hoạt văn học của xã hội, một số cuộc hội thảo, tọa đàm về thơ đã được tổ chức. Và dường như, do chưa xem xét kỹ lưỡng để xác định đầy đủ tầm mức tư tưởng – nghệ thuật, ý nghĩa của tác giả – tác phẩm, nên sau hội thảo, tọa đàm đã rộ lên những lời bàn tán.

Nhìn nhận một cách khách quan, nếu xu hướng chung của một cuộc hội thảo, tọa đàm là khen ngợi cũng không hẳn đáng trách. Vì vấn đề phụ thuộc vào việc khen ngợi có lý hay không, có được luận chứng rành rẽ, thuyết phục hay không. Với chê cũng vậy, dựa trên tinh thần lương thiện trí thức và tính khách quan để chỉ rõ hạn chế thì cần trân trọng, vì chí ít việc làm này cũng giúp tránh được sai sót, thậm chí là tránh sai lầm.

Thiết nghĩ, để tổ chức hội thảo, tọa đàm về thơ của một tác giả, trước hết cần đánh giá xem thơ của tác giả ấy có thật sự mang ý nghĩa xã hội – nghề nghiệp, có thật sự đem tới các tác động tư tưởng – thẩm mỹ đối với đồng nghiệp và công chúng…

Ngày 16/8 và qua, Ban Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam đã tiến hành phiên họp thường kỳ. Nội dung phiên họp có phần nghe báo cáo của Tạp chí Nhà văn về việc tổ chức hội thảo Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử đang có những ý kiến trái chiều. Liệu BTC hội thảo có phải giải trình? Việc sử dụng Hội trường trong trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam từ nay sẽ phải tuân theo quy định như thế nào? TT&VH sẽ tiếp tục đăng tải trên các số báo tiếp theo.

Nguyễn Hòa

Advertisements