Bài gốc:
http://thegioimoi.vn/Home/ArticleDetail/vn/5/81/do-trung-lai-thay-giao-mac-ao-linh.tgm

Đỗ Trung Lai – thầy giáo mặc áo lính

Từ Đại học Sư phạm Hà Nội đã có bao nhiêu sinh viên xếp búp nghiên, thành anh bộ đội? Con số này là bao nhiêu nếu cộng thêm số cử nhân Sư phạm Hà Hội tạm xa trường lớp mình đang dạy, cầm súng đánh giặc trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc thế kỷ 20? Và nếu cộng thêm sinh viên các trường khác? Chúng tôi hỏi những câu này với nhà thơ – cựu chiến binh Đỗ Trung Lai, cựu sinh viên Khoa Vật lý nhân dịp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chuẩn bị kỷ niệm 60 năm hình thành và phát triển (11/10/1951 – 11/10/2011).

* Nhà thơ Đỗ Trung Lai (bên phải) và kiến trúc sư Đoàn Đức Thành tại Ngày thơ Việt Nam (Nguyên tiêu Tân Mão, 17/2/2011).

1.
Là người học khoa học tự nhiên, giỏi tính toán, lại gần như tại ngũ từ ngày tốt nghiệp sư phạm cho tới ngày nghỉ hưu, nhà thơ Đỗ Trung Lai vào chuyện rất cụ thể: “Khóa tôi học có 4 lớp. Khoa Vật lý lúc ấy có 4 khóa (từ Lý I đến Lý IV), tức là 16 lớp. Ngày ấy, không khí chiến đấu – chiến tranh tràn ngập miền Bắc, đặc biệt là những tin chiến sự từ Quảng Trị (“Mùa hè đỏ lửa”). Theo lệnh “Động viên cục bộ” do Chủ tịch Tôn Đức Thắng ký (nhiều người nhầm là lệnh “Tổng động viên”), các ban tuyển quân do quân đội cử vào trường để tuyển “cho nhanh”. 16 lớp Khoa Vật lý đều thế, ai không bệnh tật, tàn tật (tất nhiên là sinh viên nam), đều phải đi khám sức khỏe, 40 kg trở lên, có thể cầm súng, đều nhập ngũ, kể cả một số cán bộ giảng dạy trẻ. Theo tôi biết, riêng khóa tôi (4 lớp Lý IV – năm thứ tư) đã được 1 đại đội, 3 khóa dưới (Lý III, Lý II, Lý I) cũng vậy. Thế tức là cỡ 4 đại đội = dư 1 tiểu đoàn. Bên cạnh đó là các khoa Toán, Hóa, Sinh và Kỹ thuật công nghiệp… Tính sơ sơ, đợt ấy, nhập ngũ cỡ 4-5 tiểu đoàn – lúc ấy, mỗi đại đội là 120 người, một tiểu đoàn (bộ binh) là 3 đại đội (360 người), nhân lên, thì tổng số sinh viên Sư phạm Hà Nội đợt ấy nhập ngũ khoảng từ 1.400-1.800 người. Lại còn sinh viên Tổng hợp, Bách khoa, Giao thông v.v. Tôi không biết các trường khác đợt ấy đi bao nhiêu, nhưng việc lấy quân là tương đối triệt để. Trước đó, năm 1971, đã lấy 2 đợt; sau tháng 5/1972 lại một đợt nữa. Theo ước tính của tôi, trong 2 năm (1971-1972), số sinh viên đại học (chưa kể cao đẳng, trung cấp) miền Bắc nhập ngũ phải là vài ba, thậm chí bốn sư đoàn (bộ binh), mỗi sư cỡ 10.000 người”.
Mới chỉ trong hai năm, số lượng lính có học đã nhiều như thế, họ mang tới vẻ đẹp trí thức cho anh bộ đội Cụ Hồ. Riêng những người thầy mặc áo lính, những anh bộ đội tốt nghiệp đại học sư phạm còn có nhiệm vụ dạy học trong các trung tâm văn hóa quân đội, để vẻ đẹp kia nhiều hơn, bền vững hơn. Anh lính trẻ Đỗ Trung Lại sau hai năm ở đơn vị chiến đấu thuộc sư 338 làm lính thông tin đã về dạy môn vật lý ở một trung tâm văn hóa quân đội thuộc Bộ Quốc phòng, đóng tại tỉnh Lạng Sơn.

2.
Còn là anh binh nhất, Đỗ Trung Lai đã làm thơ, sau tiếp tục làm thơ khi là một sĩ quan của báo Quân Đội Nhân Dân, tính chiến đấu trong thơ ông như một dấu hiệu tự nhiên. Nhưng không biết vì vị trí chiến đấu phải bắn nhiều đạn khai sáng hơn là đạn triệt tiêu hay vì cái tạng người không thích “đùng đoàng” mà thơ của thi sĩ áo lính Đỗ Trung Lai ít cam go khốc liệt, nhiều ảo diệu, thăng hoa, đẹp một cách cổ điển trong hơi hướng duy mỹ. Đó là một vẻ đẹp nhiều người cần, vì thế, bài thơ tiêu biểu cho phong cách này – Đêm sông Cầu của ông, vừa in báo lần thứ nhất đã có nhạc sĩ đồng cảm (Phan Lạc Hoa) và biến thơ thành nhạc, thành ca khúc Tình yêu bên dòng sông quan họ cùng với giai thoại cần thiết – giai thoại thơm hương trà kèm theo. Năm 1982, ca sĩ Thanh Hoa mang bài này đi tham gia Liên hoan nhạc nhẹ quốc tế ở La Habana, Cuba. Có thể nói tác phẩm đầu tay của Đỗ Trung Lai đã là tác phẩm để đời. Bài thơ giữ giọng lục ngôn, quen quen như khúc dân ca đã thuộc nằm lòng, lơ thơ như con sông đang qua đất ấy, nhưng đầu sông vẫn có “mặt trận”, có “ải Bắc”, những thứ thô tháp kia không như “sao trời lọt qua mắt lưới” khiến người thơ và nàng thơ, anh và em, muốn thở mãi nhịp tình yêu, phải lớn như đêm như ngày để ngày đêm nối mãi nhịp thời gian, nhịp sống:

Ngày mai chặn miền ải Bắc
Tựa lưng vào đêm sông Cầu.

Tính chiến đấu trong thơ của Đỗ Trung lại đẹp như một đường song kiếm vũ đạo. Nhận xét về thơ Đỗ Trung Lai, nhà thơ Vũ Quần Phương viết: “Cảm xúc Đỗ Trung Lai thường là một cảm xúc dân dã, nhiều phong vị nông thôn dù viết về đề tài nào. Tư duy thơ Đỗ Trung Lai đã vào độ chín, anh biết lọc ra chất thơ giữa vẻ lộn xộn của đời sống hiện thực. Anh đã có cái nhìn bao trùm xã hội để đề cập những vấn đề sống còn của con người” (Từ điển tác giả văn học Việt Nam thế kỷ XX).

Nhưng Đỗ Trung Lai không chỉ làm thơ, ông còn là người có giải truyện ngắn hay Người chơi đàn nguyệt ở Hàng Châu. Bạn đọc Thế Giới Mới chắc còn nhớ truyện ngắn Nga mi của ông in trên TGM 592. Với những chấm phá huyền ảo, Đỗ Trung Lai để đàn cá nga mi được tạo cơ hội hành xử như con người, hy sinh cứu nạn. Sự hy sinh kéo dài chuỗi ứng xử đẹp có rất nhiều trong truyện. Đẹp trong tư thế quỳ xin thần sông để thiên nhiên giúp con người vượt khó. Đẹp trong cách nhường nhịn, cưu mang, giữa anh em ruột thịt quanh mâm cơm, trong bang giao quốc tế chống Mỹ, viện Triều. Đẹp trong sự gắn kết xưa với nay, tâm linh và vật chất…

Vào năm 2008, Đỗ Trung Lai khiến nhiều người ngạc nhiên khi mở triển lãm Thơ – Tranh – Sách như là cách kết hợp những khả năng sáng tạo nghệ thuật mà mình có, nhằm đưa đến cho bạn đọc những rung cảm nghê thuật tổng hợp hơn, nhờ vậy có nhiều khoái cảm thẩm mỹ hơn. Ông trưng bày như một sắp đặt nghệ thuật (performance art) có chừng mực trong không gian triển lãm cùng lúc ba loại hình sản phẩm văn hóa kia. Xem triển lãm mà ngoài thơ còn tranh vẽ và ba dịch phẩm Đường thi (Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị), người ta mới biết anh sinh viên sư phạm ấy đã học từ khi còn nằm trong vòng tay bế ẵm của cha mẹ và vẫn học khi đã “xếp bút nghiên” cầm súng để thành một người tài hoa. Ông kể: “Bố tôi là nhà nho, ông ru tôi ngủ bằng thơ Đường và tôi lớn lên đã thấm đẫm tinh thần Nho học của ông. Thơ Đường đã ngấm vào tôi lúc nào không hay. Tôi cũng đã tự học, tự mày mò và cho đến nay vốn kiến thức về Hán học trong tôi cũng đủ để có thể dịch sách và biên soạn sách. Tôi chơi với các họa sĩ nhiều, đi theo họ nhiều thì tôi cầm bút vẽ, sau đó thì mê và theo đuổi. Chuyện tôi bán tranh mà xây được nhà là có thật. Những cuộc triển lãm đối với tôi không còn xa lạ vì trước đó tôi đã có tới 6 lần triển lãm tranh chung với các họa sĩ khác”.

Từ Đại học Sư phạm Hà Nội những ngày giữ nước ấy, như Đỗ Trung Lai, rất nhiều sinh viên đã xếp hàng để thành các anh bộ đội và đã trưởng thành.

Trần Quốc Toàn

Advertisements