TÌM HIỂU VỀ NGUỒN GỐC HỌ ĐOÀN
* Ngày 16-3 Ất Dậu (24-4-2005) khánh thành đền thờ Đông Hải Đại Vương Đoàn Thượng – Tổ họ Đoàn Việt Nam tại xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, Hải Dương (người mặc áo đen là Vũ Thái Hòa – bà xã KTS Đoàn Đức Thành). Ảnh: Đoàn Đức Thành.

doanducthanh-KIẾN TRÚC VIỆT: Cũng như các dòng họ khác của Việt Nam, trừ họ Khiếu, tất cả các họ người Kinh đều viết được bằng chữ Hán, tên họ của người Kinh đều trùng với tên họ người Trung Quốc. Theo sử sách Trung Quốc, họ Đoàn xuất phát từ quận Kinh Triệu, nguyên là họ Lý. Cháu nội của Lão Tử là Lý Tông làm quan ở nước Tấn, được ăn thái ấp ở Đoàn Can, rồi lấy họ Đoàn Can. Nước Ngụy có Đoàn Can Mộc. Về sau, con cháu của Đoàn Can Mộc lấy họ là Đoàn, họ đơn. Lại có một nhánh lấy họ là Can. Nước Tấn có Đoàn Thất Đế, thời Đường có Đoàn Văn Xương.
Ở Việt Nam, họ Đoàn có mặt từ thời Tiền Lý (544-602). Trong thần phả đình làng An Mai ở thôn Thanh Mai, xã An Thanh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình do tiến sỹ Nho học Nguyễn Viết Báo viết, thì thời Tiền Lý đã có ông Đoàn Danh Tích về An Mai khai hoang, lập làng. Ở làng Bệ (thôn An Bài), xã An Bài cũng ở huyện Quỳnh Phụ có cụ Đoàn Quý Công, húy Đạo Cao cũng có mặt ở đây từ thời Tiền Lý. Thời nhà Ngô (939-965) có cụ Đoàn Huy Lượng – Tướng của Ngô Quyền – tham gia đánh giặc Nam Hán. Cụ Đoàn Văn Khâm là đời thứ tư của cụ Đoàn Huy Lượng, trúng tuyển khoa thi Minh Kinh bác học năm 1075 là khoa thi Nho học đầu tiên của nhà nước Việt Nam, cụ được bổ nhiệm làm Thượng thư Bộ Công đời vua Lý Nhân Tông (1072-1128), về sau cụ chuyển về làng Cổ Phục, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Đời thứ năm có danh nhân Đoàn Thượng, sinh ở xã Xuân Độ nay là thôn Thung Độ, xã Đoàn Thượng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, là một tướng tài cao chí lớn và đức độ vào đời vua Lý Cao Tông (1176-1210). Lúc này cơ nghiệp nhà Lý suy đồi bị thế lực Trần Thủ Độ thao túng. Thấy không thể vực dậy một triều đình thối nát, ngài Đoàn Thượng về Hồng Châu (địa bàn này thuộc Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên ngày nay) tự xưng là Đông Hải Đại Vương, trong 21 năm (12071228) quản lý đất Hồng Châu, dẹp loạn, yên dân. Ngài đã bị tử trận. Tương truyền sau khi mất ngài hiển thánh. Vua Trần Thái Tông (1225-1258) đã truy phong ngài là Đông Hải Đại Vương, Thưởng đẳng thần, truyền cho các địa phương tổ chức tế lễ hàng năm. Đã có 72 địa phương thờ Ngài là Thành Hoàng.
Họ Đoàn là một họ nhỏ, nhưng đã định cư ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Bước đầu ghi nhận Thái Bình là nơi họ Đoàn khai hoang lập nghiệp sớm nhất.
Quê nội tôi ở vùng châu thổ sông Hồng. Theo tộc phả dòng họ Đoàn truyền lại, thời nhà Lê đời vua Huyền Tông có hai anh em họ Đoàn, người anh tên là Đoàn Minh Thông, người em Đoàn Mỹ Trung từ đất Cổ Việt, Vũ Thư, Thái Bình sang Nam Định làm ăn sinh sống. Người anh trụ lại tại làng Bách Tính, tổng Cổ Nông, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay là làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định), người em trụ lại tại làng Xới Thượng, cách làng Bách Tính, huyện Nam Trực khoảng 5 km.
Họ Đoàn quê tôi hàng năm tổ chức giỗ Tổ vào mùa Xuân, trong hai ngày 21 & 22 tháng Giêng âm lịch. Hôm nay 21 tháng Giêng (12-2-2012), vì sức khỏe tôi không về được, nhớ quê hương, tôi xin mạn phép cóp những tư liệu từ: "Đoàn tộc đại tôn" và "Họ Đoàn ở Việt Nam", Hà Nội 2001, (Ban liên lạc họ Đoàn toàn quốc) để các bạn họ Đoàn cùng tham khảo.
ĐOÀN ĐỨC THÀNH.

THÔNG TIN BƯỚC ĐẦU VỀ NGUỒN GỐC HỌ ĐOÀN

Sau một thời gian s­ưu tầm tư­ liệu, đ­ược sự cộng tác và giúp đỡ của nhiều vị Họ Đoàn ở nhiều miền đất nư­ớc, chúng tôi xin thông báo đến quý vị một số nét về nguồn gốc và sự phát triển của Họ Đoàn trong hơn 1000 năm qua tại Việt Nam. Xin quý vị coi đây là tài liệu tham khảo b­ước đầu, vì một số thông tin nhân đư­ợc có thể còn sai lệch, chư­a đầy đủ, cần nhiều thời gian s­ưu tầm, chỉnh lý.

Ban liên lạc Họ Đoàn tỉnh Nghệ An có cung cấp một tài liệu do cụ Đoàn Huệ Hải, đỗ cử nhân, huyện tri Vĩnh Khang triều Lê Sơ, viết về nguồn gốc Họ Đoàn với câu truyền khẩu "Tiền c­ư Lai Cáo, Hậu đáo Tô Xuyên khuynh chi Hải Dư­ơng, xưng vư­ơng Đông Hải" và phả hệ 11 đời do cụ tổ (không biết tên) cùng 2 con là Đoàn Văn Khâm và Đoàn Huy Hải từ Lai cáo (một địa danh cổ thuộc Huyện từ Liêm, Hà Nội hiện nay)về tô xuyên (nay thuộc xã An Mỹ, Huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) năm 1020, triều Lý Thái Tổ (1010-1028). Sau đó cụ Đoàn Văn Khâm chuyển về làng Cổ Phúc huyện Kim Môn, tỉnh Hải Dư­ơng, còn em là Đoàn Duy Hải vẫn ở Tô Xuyên. Cụ Đoàn Văn Khâm là thí sinh khai khoa triều Lý Nhân Tông, làm quan tới chức Công bộ Th­ượng Th­ư. Hậu duệ thứ 6 cụ Đoàn Văn Khâm là Đoàn Phúc Th­ượng và Đoàn Phúc Lãnh chuyển cư­ sang Tu Trình ( nay là xã Thụy Trinh, huyện Thái Thụy, Tỉnh Thái Bình ) Cụ Đoàn Phúc Thư­ợng là t­ướng nhà Lý, xư­ng vương Đông Hải, chống lại nhà Trần, bị nhà Trần đánh bại năm 1228. Con cụ th­ượng là Đoàn An chạy vào Ngọc Sơn , Châu ái. Hậu duệ thứ 11 cụ Đoàn Văn Khâm là t­ướng Đoàn Nhữ Hài bị tử trận ở miền tây Nghệ An năm 1335. Hệ tộc cụ Đoàn Văn Khâm do Họ Đoàn ở Nghệ An cung cấp.
Một tài liệu khác do hội đồng gia tộc và một số cụ Họ Đoàn có gốc từ làng Tu Trình, Thái Bình cung cấp rõ hơn về dòng họ cụ Đoàn văn Khâm như­ sau: Họ Đoàn Đã có từ lâu đời nguồn gốc phát tích tại Sơn Lĩnh ( nay ch­ưa rõ thuộc địa phư­ơng nào) Quá trình phát triển và chuyển cư­ đến nhiều địa ph­ương trong cả n­ước, đến nay có thể đã ngót 50 đời. Gia phả và bia ký dòng Họ để lại mới biết đ­ược một số cụ tổ sau đây:
Cụ Đoàn Huy L­uợng, t­ướng của Ngô Quyền tham gia đánh giặc Nam Hán năm 938, hiện có đền thờ ở Nghi Đoan ( Hải Phòng ).
Cụ Đoàn Văn Lan, t­ướng của Minh Công Trẫn Lãm, sau giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân, hiện có đền thờ ở Lạc Đạo (Thái Bình).
Cụ Đoàn Văn Liễn (con cụ Đoàn Văn Lan), T­ướng nhà Đinh, sau giúp Lê Hoàn đánh Giặc Tống, đ­ược ban 10 chữ " Bình Tống huân danh tại, phù Lê sử sách thùy" năm 1009 Cụ Liễn đứng về phe ủng hộ cụ Lý Công Uẩn lên ngôi vua. Cụ Lý Thái Tổ cấp lộc điền ở Tô Xuyên. và đến năm 1020 cụ đem con cháu đến đây khai khẩn làm ấp thang mộc. Họ đoàn ở làng tu Trình vẫn truyền khẩu câu nói: "Tiền c­ư Lai Cáo, hậu đáo Tô Xuyên, ốc tại Tu Trình, ký cư­ Quảng Nạp".
Cụ Đoàn văn Khâm (con cụ Liễn) đỗ khoa thi năm ất mão (1075) là thư­ợng th­ư Bộ công triều Lý Nhân Tông.
Cụ Đoàn Thiện Hồng (con cụ Khâm t­ướng nhà Lý, phu nhân là Lý Thị, nhũ mẫu của vua Lý Nhân Tông.
Cụ Đoàn Quang Dao (con cụ Hồng) t­ướng nhà Lý, được phong t­ước yên quốc th­ượng tư­ớng quân, có con gái Đoàn Thị làm thứ phi vua Lý Anh Tông
Cụ Đoàn Thiện Hổ (con cụ Dao) t­ướng nhà Lý, có công dẹp loạn đư­ợc phong đất lộc điền ở trại Mắt, tên chữ là làng Tu Trình, Một vùng đất ven hạ l­ưu sông Hóa làm ấp thang mộc.
Cụ Đoàn phúc Lãnh (con cụ Hổ) làm quan Hà Đê chỉ huy sứ. Năm 1170 cụ Lãnh đư­ợc triều đình cử đi trị thủy vung Duyên Hải, Lộ Hải Thanh (Thái Bình, Nam Định ) Cụ Lãnh đã đem con cháu về Tu Trình Định cư­, khai khẩn vùng đất lộc điền đư­ợc cấp.
Cụ Đoàn Phúc Lãnh có 3 ng­ười con là Đoàn Phúc Thượng, Đoàn Phúc Chủ và Đoàn Phúc Hào.
Đoàn Phúc Th­uợng làm phán phủ Hồng Châu, rồi làm tướng Điện Tiền triều Lý Cao Tông. Năm 1212 nhận lệnh về Hồng Châu mộ quân, nhân lúc vận nhà Lý suy đồi tự x­ưng vương Đông Hải, cùng em là Đoàn Chủ lập căn cứ ở Bần Mao (gần Thăng Long) và làng Gia Viên (nay thuộc Hải Phòng) chống lại nhà Trần. Đến năm 1228. bị Trần Thủ Độ lập mư­u giết hại. Đoàn Phúc Th­ượng có con là Đoàn Lôi và Đoàn Phúc Khuê.
Đoàn Lôi thỏa hiệp với nhà Trần lấy em gái Trần Thừa là Trần Tam N­ương làm vợ kế và về Tu Trình ở ẩn.
Năm 1351, có một chi Họ thuộc Hậu duệ cụ Đoàn Phúc Lãnh từ Tu Trình về Quảng Nạp. chi Họ này có cụ Đoàn Công Uẩn, có công giúp Lê Lợi chống giặc Minh đ­ược Tặng danh hiệu Đoàn dũng tư­ớng danh huân, đ­ược thờ làm Thành hoàng ở Đình Quảng Bắc.
Con cụ Đoàn Công Uẩn là Đoàn công Bẩm đựợc vua ban quốc tính là Lê Công Bẩm, một võ t­ướng đ­ược phong chức Thái th­ường thị thiếu khanh, tư­ớc Thiên hào tử, chuyển cư­ về Hiến Phạm, Văn Giang, Hư­ng Yên (nay là làng Giai Phạm, huyện Mỹ Văn, tỉnh H­ưng Yên) Hậu duệ cụ Lê Công Bẩm đổi lai Họ Đoàn có Đoàn Doãn Nghi và con là Đoàn Doãn Luân và Đoàn Thị Điểm. Hậu Duệ cụ Đoàn Phúc Lãnh, chi Họ về Đại Hạnh, Văn Giang, Hư­ng Yên có cụ Đoàn Duy Tinh (sau đổi là Đoàn Nguyên Thục ) đỗ tiến sỹ năm Cảnh H­ưng thứ 13 (1752) làm quan đến chức phó đô ngử sử , t­ước Quỳnh Xuyên bá. con cụ Tĩnh là Đoàn Nguyên Tuấn, Đỗ tiến sỹ triều Lê Hiển Tông làm tả thi lang bộ lại, tư­ớc Hải phái hầu triều Tây Sơn.
Sơ bộ thống kê thì Họ Đoàn của cụ Đoàn Phúc Lãnh ở Tu Trình, Thái Bình đã có một số nhánh đi về các địa ph­ương sau đây: Quảng Nạp, Hiến Phạm (Văn Giang), làng Cờ thuộc tổng Mỹ Xá (nay là xã Ngọc Ký thuộc Tứ Lộc, Hải Dư­ơng), núi Na (Đông Triều), Đại Hạnh (Văn Giang), Hải An(Thái Bình), Yên Bài (Mê Linh), Kim Côn (An Lão, Hải Phòng), Tân H­ưng (Tứ Lộc, Hải D­ương), Vũ Xá (Nam sách, Hải D­ương), Hà Nội, Bắc Giang, Vĩnh Yên, Quảng Cư­ (Thủy Nguyên, Hải Phòng , Tiểu Hoàng (Nam Trực Nam Định) Tiên Lãng, Vĩnh Bảo thuộc Hải Phòng.
Như­ vậy dòng tộc cụ Đoàn Văn Khâm có nhánh Họ cụ Đoàn Phúc Lãnh đã chắp nối đựơc một số chi chuyển cư­ về các địa ph­ương thuộc đồng bằng Bắc bộ qua triều Lý, Trần, Lê còn một số nhánh, chi khác chư­a có t­ư liệu.
Ngoài ra, một nguồn tin khác từ Thái Bình cung cấp cho biết, trong thần phả đình làng An Mai (nay là thôn Thanh Mai, xã An Thanh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) do tiến sỹ nho học Vũ Viết Bảo viết thì từ nhà Tiền Lý (544-602) đã có ông Đoàn Danh Mai về An Mai khai hoang, lập ấp. Và trong gia phả Họ Trần làng An Mai có ghi: Vào triều Lý Thái Tổ khi cụ tổ Họ Trần về đây thì đã có ng­ười Họ Đoàn sinh sống.

LỊCH SỬ HỌ ĐOÀN

690 năm trước Công Nguyên

Họ Đoàn xuất nguyên từ nước Trịnh tại đầu thời Xuân Thu, đến nay đã có lịch sử 2700 năm. Dựa vào "Sử kí – Trịnh thế gia" ghi chép, Trịnh Vũ Công ở Tân Trịnh thuộc đất Hà Nam lập nên nước Trịnh, sau Trịnh Vũ Công bị bệnh chết. Con trưởng tên là Ngụ Sinh kế vị tức là Trịnh Trang Công. Con thứ hai là Thúc Đoàn xuống tại đất Túng Dung của mẹ mình, mưu tính chiếm chính quyền nước Trịnh. Sau đó thất bại tìm đường trốn chạy, tụ tập chư hầu đến đất Cung, hiện nay thuộc huyện Huy tỉnh Hà Nam. Thúc Đoàn sau khi đến đất Cung lại xưng là Cung Thúc Đoàn, sau đến đời con cháu của ông ấy có người lấy tên của ông ấy làm tên họ, tức là họ Đoàn.

30 năm trước Công Nguyên

Nhân vật họ Đoàn ở thời Cổ đại, là dân tộc đoàn kết có cống hiến người trị đắc đạo là Đoàn Hội Tông. Đoàn Hội Tông ở thời Tây Hán (năm thứ 33 trước Công nguyên), giữ chức Đô hộ Tây Vực, ở Tây Vực các dân tộc rất thành tín. Tăng cường mối liên hệ giữa Trung Nguyên và Tây Vực của các dân tộc.

40 năm sau Công Nguyên

Năm tân-sửu (41) vua Quan-vũ sai Mã Viện làm Phục-ba tướng-quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan Lâu-thuyền tướng quân là Đoàn Chí sang đánh Trưng-vương.
Mã Viện đánh được Trưng-vương đem đất Giao-chỉ về thuộc nhà Hán như củ, rồi chỉnh đốn binh lương, đem quân đi đánh dẹp các nơi, đi đến đâu xây thành đắp lũy đến đấy và biến cải mọi cách chính trị trong các châu quận. Đem phủ-trị về đóng Mê-linh13 và dựng cây đồng trụ ở chỗ phân địa giới, khắc sáu chữ: "Đồng trụ chiết, Giao-chỉ diệt." Nghĩa là cây đồng trụ mà đổ thì người Giao-chỉ mất nòi.
Sử chép rằng người Giao-chỉ đi qua lại chỗ ấy, ai cũng bỏ vào chân cột đồng-trụ một hòn đá, cho nên về sau chỗ ấy thành ra núi, phủ mất cả, đến bây giờ không biết cột ấy ở chỗ nào.

Năm 544 – 602

Họ Đoàn phát tích từ đâu, có mặt tại việt Nam vào thời gian nào và có bao nhiêu dòng thì rất khó xác định. Các dấu tích còn lại được biết họ Đoàn ở Việt Nam có mặt ít ra từ thời Tiền Lý. Trong thần phả đình làng An Mai (nay là thôn Thanh Mai, xã An thanh, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) do tiến sỹ Nho học Nguyễn Viết Báo viết thì vào thời Tiền Lý (544 – 602) đã có ông Đoàn Danh Tích về An Mai khai hoang, lập làng

Năm 865

Xuất phát của họ Đoàn có lẽ là từ vùng Hưng Hóa (Phú Thọ), nhưng gốc tích họ Đoàn ở Việt Nam phải truy lên đến họ của các chậu (lãnh chúa một mường) ở vùng "Mười hai bản mường" (Xịp soỏng bản nà; nay thuộc tỉnh Vân nam, Trung Quốc). Các chậu, sau này là vua Nam Chiếu, đều họ Đoàn, các vua Nam Chiếu thông gia với người Lý Lão (người Tày, cùng chủng tộc với người Nam Chiếu tộc Thái) ở Việt nam, và khi người Lý Lão Việt Nam nổi loạn giết đô hộ Lý Trác khoảng năm 856 đời Đường thì quân Nam Chiếu do tướng Đoàn Tù Thiên cầm đầu sang chi viện, chiếm luôn thành An Nam đô hộ phủ trong 3 năm…Sau đó quân Nam Chiếu bị Cao Biền đánh bại, chết và bị bắt làm tù binh khoảng 5 vạn (năm 865 đời Hàm Thông). Có lẽ số tù binh đó là những người họ Đoàn đầu tiên tại Việt nam (trước đó không thấy ai họ Đoàn trong lịch sử Giao Chỉ cả).

Quý Mùi, 863, (Đường Hàm Thông, năm thứ 4). Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Ngọ, quân Nam Giao đánh chiếm phủ thành. Nam Giao hai lần chiếm Giao Châu, vừa giết vừa bắt gần 150.000 người. Khi rút lui còn lưu lại 20.000 quân, sai Tư Tấn giữ thành Giao Châu. Người Di Lão ở các khe động đều hàng phục cả. Vua Nam Giao cho thuộc hạ là Đoàn Tù Thiên làm tiết độ sứ phủ Giao Châu.

Giáp Thân, 864, (Đường Hàm Thông, năm thứ 5). Mùa thu, tháng 7, vua Đường cho Cao Biền làm Đô hộ tổng quản kinh lược chiêu thảo sứ.

Trong giai đoạn đó …
Năm 902

Sau đó triều đại Nam Giao bị suy yếu và bị lật đổ vào năm 902; sau ba lần thay ngôi, Đoàn Tư Bình mới thống nhất được các sứ quân Nam Giao vào năm 937 xong đổi tên nước thành Đại Lý. Thời bấy giờ họ Đoàn của nhà Đại Lý đã chịu sự ảnh hưởng sâu đậm của phái Mật Tông của Phật giáo (như triều Lý Trần ở xứ ta); Phật Giáo đã trở thành quốc giáo của xứ nầy. Đoàn Tư Bình đổi tên Đại Lý có ý là lấy giáo lý của Phật làm tên nước. Trước đó đạo Phật đã truyền sang Nam Giao qua ngã Thổ Phồn (Tây Tạng); vị vua cuối cùng của Nam Giao vì quá sùng đạo nên lơ là việc nước dẫn dắt đến sự truất ngôi, phân chia rồi được thống nhất do Đoàn Tư Bình bắt đầu triều Đại
Vương quốc Đại Lý là sự kế tiếp của quốc gia Nam Chiếu, là một quốc gia đã suy tàn từ năm 902. Có ba triều đại kế tiếp nhau đã tồn tại sau khi Nam Chiếu bị suy vong cho đến khi Đoàn Tư Bình chiếm được quyền hành năm 937 và thiết lập ra vương quốc Đại Lý.

Từ năm 937-1253

Một nghìn một trăm năm đến nay, cộng đồng người Bạch cư trú ở trong này cùng người Di, người Hán đã sáng tạo ra nền văn hóa Đại Lí rực rỡ phong tình. (大理 pinyin: Dàlǐ) là một vương quốc của người Bạch đã từng tồn tại từ năm 937 cho đến năm 1253, nằm trong khu vực của tỉnh Vân Nam, Quý Châu và tây nam tỉnh Tứ Xuyên của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngày nay. Được sáng lập bởi Đoàn Tư Bình năm 937, vương quốc này đã được cai trị kế tiếp nhau bởi 22 vị vua cho đến năm 1253, khi quốc gia này bị tiêu diệt bởi cuộc xâm lược của đế chế Mông Cổ dưới thời Mông Kha. Thủ đô của vương quốc này là thành Đại Lý

Năm 939-965

Vào thời nhà Ngô (939 – 965) đã có cụ Đoàn Huy Lượng – tướng của Ngô Quyền – tham gia đánh giặc Nam Hán, hiện có đền thờ ở Nghi Đoan (Hải Phòng).

Năm 1010 – 1028

Vào đời vua Lý Thái Tổ (1010 – 1028) khi cụ Tổ họ Trần về làng An Mai thì đã có người họ Đoàn sinh sống. Ở thôn An Bài, xã An Bài, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình có cụ Đoàn Quý Công, huý Đạo Cao, theo truyền lại là đã về đây vào thời Tiền Lý. Cụ có công tổ chức khai hoang lập làng Bệ (nay là thôn An Bài) được 12 họ khác của làng ghi công trong Gia phả. Tại An Bài có tượng và miếu thờ cụ Cao với sắc phong là: Lương y viện dược thạch tổ lưu truyền tại miếu thuỵ, vì cụ là một thầy thuốc giỏi.

Năm 1072-1127

ĐOÀN VĂN KHÂM: (tk. Đoàn Văn Liễn; thế kỉ 11 – 12), nhà thơ Việt Nam. Không rõ quê quán. Thượng thư Bộ Công đời Lý Nhân Tông (1072 – 1127). Là nhà thơ có tư tưởng Thiền học. Ba bài còn lại: "Tặng Quảng Trí thiền sư", "Vãn Quảng Trí thiền sư", "Truy điệu Chân Không thiền sư" bằng chữ Hán chép trong "Hoàng Việt thi tuyển" do Bùi Huy Bích sưu tập cho thấy Đoàn Văn Khâm rất hâm mộ những vị tu hành, nhưng bản thân không lên núi ở ẩn chỉ vì "chót bị cái dây cân đai buộc chặt vào hàng ngũ chim cò" (hàng ngũ quan lại).

Vãn Quảng Trí Thiền Sư

Lâm loan bạch thủ độn kinh thành
Phất tụ cao sơn viễn cánh hinh
Kỷ nguyện tịnh cân xu trượng tịch
Hốt văn di lý yểm thiền quynh
Trai đình u điểu không đề nguyệt
Mộ tháp thùy nhân vị tác minh
Ðạo lữ bất tu thương vĩnh biệt
Viện tiền sơn thuỷ thị chân hình

Ðoàn Văn Khâm Viếng Thiền Sư Quảng Trí*

Rừng sâu, đầu bạc lánh kinh thành,
Rũ áo về non thơm ngát danh.
Những ước sửa khăn hầu cửa Phật,
Thoắt nghe tin báo, mộng hồn kinh.
Sân chùa chim tối kêu vầng nguyệt,
Mộ tháp ai người viết bức minh?
Ðạo hữu can chi buồn vĩnh biệt,
Chùa xưa, non nước hiện chân hình.

Thiền sư Quảng Trí họ Nhan. Năm đầu niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059) sư từ bỏ thế tục đến tham vấn Thiền Lão ở Tiên Du . Nhờ một câu nói của Thầy, sư nhận được yếu chỉ, từ đó dốc sức vào thiền học. Về sau sư trụ trì chùa Quán Ðỉnh núi Không Lộ, kết bạn với tăng Minh Huệ, người đời cho là Hàn Sơn, Thập Ðắc tái thế . Công bộ thượng thư Ðoàn Văn Khâm làm bài thơ trên thương tiếc khi sư quy tịch (khoảng niên hiệu Quảng Hựu 1085-1091)

Năm 1211

Từ năm 1211 trong nước Đại Việt đã hình thành ba thế lực phân cát lớn là:
● Họ Đoàn (Hải Dương và Hải Phòng).
● Họ Trần (Thái Bình, Nam Định và nam Hưng Yên).
● Họ Nguyễn (Quốc Oai, Hà Tây)

Họ Trần ở Thiên Trường, do hai anh em họ Trần là Trần Thừa và Trần Tự Khánh lãnh đạo (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, phía hữu ngạn sông Hồng).

Họ Đoàn ở Hồng lộ, do Đoàn Thượng và Đoàn Chủ cầm đầu (phía tả ngạn sông Hồng, gồm các quận Gia Lộc, Bình Giang, Thanh Miên và Ninh Giang tỉnh Hải Dương ngày nay).

Họ Nguyễn ở Bắc Giang, do Nguyễn Nậu và Nguyễn Nãi lãnh đạo ( phía bắc sông Đuống – tên cổ thời là sông Thiên Đức, gồm các quận Tiên Du, Từ Sơn, Quế Võ tỉnh Bắc Ninh ngày nay).

Triều đình nhà Lý chỉ kiểm soát vùng xung quanh Thăng Long. Trong quá trình nắm quyền bính trong triều cho tới khi thay ngôi nhà Lý, nhà Trần tiếp tục phải đối phó với các lực lượng cát cứ từ thời Lý.

Do thế lực chưa đủ mạnh để trấn áp tất cả các lực lượng nổi dậy, họ Trần phải dùng chiến thuật khi đánh khi hoà, thậm chí cả biện pháp hôn nhân; và tận dụng sự xung đột của chính các thế lực này tự làm yếu nhau.
Sau khi nhà Trần thành lập, Nguyễn Nộn đánh bại giết chết Đoàn Thượng năm 1228. Nhưng không lâu sau, cuối năm 1229, Nguyễn Nộn ốm chết, lực lượng của Nộn tự tan rã. Nhà Trần chấm dứt được cục diện chia cắt, tập trung củng cố nội chính sau nhiều năm nghiêng ngả dưới thời Lý.

Bộ tư liệu nội chiến cuối Lý 1209-1229
Màu đỏ: khởi nghĩa Phí Lang ở làng Đại Hoàng ( Ninh Bình).
Năm 1202, người làng Đại Hoàng bị bắt đi phu xây cửa Đại Thành ở Thăng Long cực khổ quá nên khởi nghĩa. Người chỉ huy là Phí Lang cùng với Đinh Khả, người tự xưng là hậu duệ nhà Đinh. Nhà Lý sai Trần Hinh và Từ Anh Nhĩ đi đàn áp nhưng bị đánh bại, Anh Nhĩ chết tại trận. Tháng 5 năm 1205, vua Lý Cao Tông lại sai Đỗ Anh Doãn đi đánh, vẫn thua. Đến tháng 10, Đàm dĩ Mông đem quân đắp lũy để đánh nghĩa quân, cùng lúc quân Phí Lang đốt hành cung Ứng Phong ( Nam Định), phá kho thóc, đốt nhà cửa. Đến tháng 8 năm đó, vua đành phải dụ hòa. Phí Lang và 170 hào trưởng ra hàng, song thực tế từ đó họ đã hoàn toàn chiếm lĩnh Ninh Bình.

Màu Tím: Họ Đoàn ở Hồng Châu ( Hải Dương, Hải Phòng).
Tháng 9 năm 1207, hào trưởng lớn là Đoàn Thượng, Đoàn Chủ nổi loạn, xây thành xưng vương. Vua sai Đàm Dĩ Mông, Phạm Bỉnh Di, Trần Hinh, Bảo Trinh họp quân đàn áp. Đoàn Thượng không chống nổi, ngầm mua chuộc quan trong triều là Phạm Du tâu vua rút quân về. Từ đó họ Đoàn ngày càng lớn mạnh, ngầm liên minh với Phạm Du, trở thành 1 trong 3 thế lực lớn nhất đất nước thời cuối Lý.

Màu Xanh: Họ Trần ở Lưu Xá ( Thái Bình).
Bắt đầu là ông Trần Lý, vốn nghề đánh cá, sau giàu có, liên kết với họ Tô và họ Lưu trong vùng, mua 1 chức quan nhỏ, trở thành người có thế lực. Mới đầu họ ko tham dự gì vào các cuộc phân tranh, chỉ ngấm ngầm mở rộng thế lực, chiếm cứ Hải Ấp ( Thái Bình). Khi Quách Bốc nổi loạn, họ tạm về phe với Quách Bốc.

Màu Cam: Phạm Du ở Nghệ An.
Đầu năm 1209, vua sai Phạm Du coi việc quân ở Nghệ An. Du nhân đó liều chiêu nạp trộm cướp, tăng cường thế lực, ngầm cấu kết với họ Đoàn ở Hồng Châu nhưng sau đó bị Phạm Bỉnh Di đánh bại ( lại còn tiến lên Hồng Châu giết cả Đoàn Chủ). Du vu tấu với Lý Cao Tông giết chết Phạm Bỉnh Di rồi đưa vua chạy trốn. Ít lâu sau, vua sai y về liên kết với họ Đoàn để đánh họ Trần đang nhân đó phất lên. Thế nhưng Phạm Du bị giết dọc đường, phe phái này cũng theo đó tan rã.

Màu Vàng Đậm: Phạm Bỉnh Di, Quách Bốc ở Đằng Châu ( Hưng Yên).
Vốn là 1 hoạn quan được vua tin cẩn. Năm 1209, Phạm Bỉnh Di được lệnh mang quân đánh loạn Phạm Du. Nhưng đánh bại Phạm Du và họ Đoàn rồi, ông ta lại bị vu tấu và bắt giam, giết chết. Tướng dưới quyền là Quách Bốc nghe tin giận quá, kéo quân đánh vào kinh đô, khiến Lý Cao Tông phải bỏ chạy. Ban đầu, phe phái này liên minh với họ Trần nhưng ngay trong năm ấy bị chính họ Trần tiêu diệt và thôn tín.

Màu Hồng Nhạt: Họ Phạm ở Nam Sách thuộc Hồng Châu ( Hải Dương, Hải Phòng):
1 họ lâu đời, có thế lực, ít tham dự cuộc phân tranh.

Đại Việt trong năm 1210 (trước Trận Khoái Châu)
họ Trần thôn tín thế lực của Quách Bốc ở Khoái Châu, bành trướng thế lực nhanh chóng

Đại Việt năm 1212 ( sau trận Khoái Châu):
họ Trần bị họ Đoàn đánh bại ở Khoái Châu. Trần Tự Khánh túc giận phá đê nhấn chìm cả Khoái Châu khiến dân chúng ở đây phẫn nộ bỏ theo họ Đoàn. Sau đó, họ Trần liên kết với họ Nguyễn để đánh họ Đoàn.

Năm 1254

Ở phương Bắc, người Mông Cổ dần dà xâm chiếm Trung Quốc. Sau khi tiêu diệt nhà Kim phía bắc, các vua Mông Cổ tiến xuống phía nam để diệt nước Nam Tống vốn đã suy yếu khi bị nhà Kim của người Nữ Chân xâm lấn từ đầu thế kỷ 12. Để tạo thế bao vây Nam Tống, vua Mông Cổ đánh chiếm nước Đại Lý (Vân Nam (1254) và sau đó đánh sang Đại Việt.

Năm 1254

Ngột Lương Hợp Thai (theo tên gọi trong Trung văn: 兀良合台; 1200-1271[1]) là tướng chỉ huy khi quân Mông Cổ xâm lược Đại Việt lần thứ nhất vào năm 1258. Ngột Lương Hợp Thai được xếp là công thần đứng hàng thứ 3 của nhà Nguyên.

ĐẠI VIỆT

Đại Việt (大越) là quốc hiệu của Việt Nam từ thời nhà Lý. Nó ra đời năm 1054, khi vua Lý Thánh Tông lên ngôi. Nó tồn tại không liên tục, đến năm 1804.

Năm 1254, Ngột Lương Hợp Thai tiến chiếm thành công nước Đại Lý – quốc gia của người Thoán Bặc (người Di ở Vân Nam) – và bắt sống vua Đại Lý là Đoàn Hưng Trí. Từ năm 1252, Ngột Lương Hợp Thai và Hốt Tất Liệt đánh Đại Lý, chiếm được kinh đô từ năm 1253, sau đó Hốt Tất Liệt nhận việc mới và Ngột Lương Hợp Thai trở thành tổng chỉ huy.

Quân đội của Ngột Lương Hợp Thai gồm kỵ binh Mông Cổ và quân sĩ người Di. Tổng cộng là cỡ 2,5 vạn. Tiên phong là tướng Triệt Triệt Đô. Ngoài A Truât, con trai Ngột Lương Hợp Thai, còn có phò mã của Mông Cổ là Hoài Đô. Dẫn đường là Đoàn Hưng Trí – vua Đại Lý.

Cuối năm 1257 âm lịch, tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai (Uriyangqadai hay 兀良合台) mang 3 vạn quân tiến vào nước Đại Việt qua đường Vân Nam. Vua Trần Thái Tông đích thân ra chiến trận. Quân Trần cố gắng chặn nhưng quân Mông Cổ vẫn tiến vào được Thăng Long. Nhân dân Thăng Long theo lệnh của triều đình đã thực hiện "vườn không nhà trống", rút về Thiên Mạc (Hà Nam). Ngột Lương Hợp Thai kéo quân vào Thăng Long chưa đầy 1 tháng thì bị thiếu lương thực. Nhân cơ hội đó quân Đại Việt phản công ở Đông Bộ Đầu (Từ Liêm-Hà Nội). Quân Mông Cổ thua phải rút khỏi Thăng Long, đến vùng Quy Hóa (Yên Bái) bị quân của tộc trưởng Hà Bổng đánh tan tác, quân Mông Cổ rút chạy về Vân Nam.

Năm 1335

Đời thứ 3 cụ Đoàn Trang Tùng có tướng Đoàn Nhữ Hài cũng là một người học rộng, tài cao. Năm 20 tuổi khi còn là học sinh, Ngài đã được phong là Ngự Sử trung tán sau khi viết thành công bài biểu tạ lỗi của vua Trần Anh Tông đối với thượng hoàng Trần Nhân Tông. Ngài đã giữ các chức vụ: Tham tri chính sự, Sứ thần, Hành khiển, Kinh lược Nghệ An, Đốc tướng chỉ huy toàn quân cùng vua Trần thân chinh đi dẹp giặc ở miền Tây Nghệ An, Ngài tử trận năm 1335.

Danh tướng Đoàn thượng và Đoàn Nhữ Hài được thờ ở đền An Tân, xã Gia Tân, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cùng tướng Lê Thạch và Hà Anh. Đền này đã được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử Quôc gia.

Đời sau dòng họ cụ Đoàn Văn Khâm ở Tô Xuyên, Thái Bình có Đoàn Phúc Lãnh đã từ Tô Xuyên về định cư ở làng Mắt vào năm 1170 (làng Mắt nay là thôn Tu Trình, xã Thuỵ Hồng, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Có tin nói cụ Lãnh làm huyện lệnh Trường Tân (Hải Dương) được bổ là Hà đê chỉ huy sứ vùng Thái Bình. Năm 1354 có một chi họ Đoàn từ Tu Trình chuyển về làng Quảng Nạp (nay là thôn Quảng Nạp, xã Thuỵ Trình, huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình). Chi họ Đoàn làng Quảng Nạp thời nhà Hồ có cụ Đoàn Công Uẩn có công lập mưu cùng dân binh giết giặc Minh. sau khi thắng lợi, vua Lê Thái Tổ truy tặng cụ là Đoàn Mãnh tướng danh huân, được lập đền thờ và là Thành Hoàng làng Quảng Nạp. Đến năm 1509 có một chi họ từ Tu Trình chuyển sang làng Cờ, tỉnh Hải Dương. Cụ tổ chi họ này là Đoàn Thế Trực, đời sau cụ Trực có một số vị làm quan thời Hậu Lê, có sắc phong của nhà vua, con cháu hiện nay rất đông đúc ở hai xã Ngọc Kỳ, Ngọc Sơn thuộc huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương và một số xã trong vùng.

Trên địa bàn Bắc Bộ chủ yếu là các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Tây, chúng tôi đã thống kê được 150 chi họ có từ 15 đến 36 đời con cháu (con số này còn thấp so với sự thật). Những chi họ này là đời sau của các cụ tổ có nguồn gốc lâu đời nhất có thể ở ba địa bàn Hà Nội – Hải Dương – Thái Bình mà xưa kia là cùng một cụ tổ sinh ra, song vì chưa tìm ra tư liệu nên chưa chắp nối được thành từng dòng, trừ dòng họ cụ Đoàn Văn Khâm đã có một số cành chắp nối được đời thứ nhất cho đến trên 40 đời hiện nay.

Năm 1470

Sách Toàn thư ghi: “Tháng 8 (Canh Dần 1470) quốc vương Chiêm Thành Bàn La Trà Toàn thân hành đem hơn 10 vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp Châu Hóa. Tướng trấn giữ biên thùy Châu Hóa là bọn Phạm Văn Hiển đánh không nổi, phải dồn cả dân vào thành rồi cho chạy thư báo cấp… Ngày mồng 6 (tháng 11) vua xuống chiếu thân hành đi đánh Chiêm Thành… Vua bèn gọi 26 vạn tinh binh, xuống chiếu thân chinh… Hôm ấy, sai Thái Sư Lân quận công Chinh lỗ tướng quân Đinh Liệt Thái bảo Kỳ quận công Chinh lô tướng quân Lê Niệm đem thủy quân 3 phủ vệ Đông, Nam, Bắc đi trước. Ban hành 24 điều lệnh đánh Chiêm Thành trao cho các quân doanh và các vệ ty Cẩm Y, Kim Ngô, Thần Vũ, Điện Tiền… Ngày 18 thủy quân vào đến đất Chiêm Thành… Ngày mồng 7 (tháng 2) vua tự mình dẫn hơn 1.000 chiếc thuyền, hơn 70 vạn tinh binh ra 2 cửa biển Tân áp và cựu Tọa dựng cờ thiên tử, đánh trống hò reo mà tiến… Ngày mồng 1 tháng 3 hạ được thành Chà Bàn, bắt sống hơn 3 vạn người, chém hơn 4 vạn thủ cấp, bắt sống Trà Toàn rồi đem quân về… Tháng 6, lấy đất Chiêm Thành đặt làm Thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Đặt chức án sát sứ ở 12 thừa tuyên và đặt 3 ty ở Quảng Nam (1).

Hạt giống Đoàn Tộc Đông yên khởi nguồn từ ông Thái Thỉ Tổ ĐOÀN ĐẠI LANG tự là An Phận, cùng bà Nhứt nương hiệu An Tâm. Nguyên quán tỉnh Hải Dương, Phủ thừa tuyền hạ hồng, Huyện Gia Phước, xã Khuôn Phụ.
Vào đời vua Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức nguyên niên (1+70) ông phò vua dẹp loạn Chiêm Thàn, lập nên công lớn trong việc bắt vua Chiêm là Trà Toàn Chiếm sự xong vua hạ chiếu ban sự hồi trào.
Ông Đoàn Công Huyền xin lệnh trên ở lại đất Quảng Nam. Thời bấy giờ gọi là Quảng nam xứ (Từ thuận hóa trở vào) Ông quy dân lập ấp, khai khẩn ruộng đất thành lập xã hiệu đặt tên là đông yên Châu, gọi là Quảng Nam xứ Thang Ba Phủ, Hà Đông huyện, Đông Yên Châu.
Tây giáp Chiêm sơn phù ….. Nam giáp cửa eo Hàm Rồng, Bắc giáp Trường Giang đại thú, hướng Đông dỉ giang di giới. Tang đố liên miên, …. Cực mục. Nghĩa là trồng dâu nuôi tằm tiên tiếp, ngó tột mắt đến chợ …. Tức là Cầu Câu Lâu bây giờ.

Sách Cương mục, sau khi tường thuật lý do thân chinh của vua Lê Thánh Tông, diễn biến cuộc hành quân và đánh thành Chà Bàn y như Toàn thư, ghi tiếp: “Vệ quân Thuận Hóa bắt sống Trà Toàn dẫn lên trước mặt vua, nhà vua ban chỉ dụ hỏi han yên ủi, sai dẫn cho ra ở ngoài ti trấn điện. Bèn hạ chiếu đem quân về… Tháng 6, Đặt đạo Quảng Nam. Nhà vua đem đất Chiêm Thành đặt làm Quảng Nam thừa tuyên, quản lĩnh 3 phủ, 9 huyện, đặt 3 ty: Đô ty, Thừa ty, và Hiến ty và đặt vệ quân Thanh Hóa gồm 5 cơ sở.

Tên đất Quảng Nam xuất hiện từ năm Hồng Đức thứ 2 (tháng 6-1471, do vua Lê Thánh Tôn đặt cho dải đất vừa chinh phục được, dài đến cuối huyện Tuy Phước – Phú Yên ngày nay). “Quảng Nam thừa tuyên” có nghĩa là “đất mở rộng về phía Nam, vâng lệnh vua để tuyên dương đức hóa” (1).

Năm 1611, Nguyễn Hoàng tách vùng đất từ phía Nam đèo Hải Vân đến Bắc sông Thu Bồn (gồm các huyện Hòa Vang, Điện Bàn, Đại Lộc bây giờ) ra khỏi trấn Thuận Hóa để nhập vào trấn Quảng Nam đã có từ thời vua Lê. Đây là một quan niệm quy hoạch lãnh thổ rất hợp lý của Chúa Tiên, bởi vì đèo Hải Vân – mà Lê Thánh Tôn đã hào sảng mệnh danh là “thiên hạ đệ nhất hùng quan” – là một thực thể địa lý – lịch sử kỳ lạ của đất nước.
Nguyễn Hoàng tức Chúa Tiên (1525-1613), con út của Nguyễn Kim, xưng Chúa năm 1558, có 10 con trai và 2 con gái. Một người con gái lấy chúa Trịnh Tráng. Nhà Nguyễn sau này truy tôn ông là Thái tổ Gia Dụ hoàng đế.

Đến đời sau Đức Tiên chúa vào chấn đất huyện hóa và Quảng Nam đóng đồn trú quân ở xã Ái tử, lúc bấy giờ năm dương lịch 1569, Tiên tổ Đoàn Công Nhạn nối theo đó mà phò Đức chúa Tiên cùng chấn có công. Đức chúa Tiên tấu phong ông Đoàn Công Nhạn là Tham Tướng chơn Nguyên Hầu.Kế sau đó có sắc lệnh ông Đoàn Công Nhạn kiêm chức các Châu thuộc Quảng Nam trấn đến các phủ. Lúc bấy giờ dân chúng đâu đó đều vào theo ông làm hầu hạ và thuộc quyền kiểm soát của ông.

Theo "Đoàn tộc đại tôn"

Advertisements