Tiến sĩ nho học họ Đoàn

1. Đoàn Xuân Lôi, ng­ười xã Ba Lỗ, huyện Tân Phúc, nay là làng Trâu Lỗ, xã Mai Đình, huyện Hòa Hiệp, tỉnh Bắc Giang. Đỗ khoa thi Thái học sinh, năm Giáp Tý (1384), niên hiệu
Xư­ơng Phù 8, đời Trần Phế Đế. Khoa thi này thi ở chùa Vạn Phúc, núi tiên Du thuộc huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh, theo sắc chỉ của Thượng Hoàng Trần Nghệ Tông. 30 tiến sĩ đỗ nh­ưng nay chỉ ghi đ­ược họ, tên 2 ngư­ời. Ông làm quan đến chức trung thủ Hoàng môn thị lang kiêm Thông phái Ái Châu. Tác phẩm hiện còn một bài phú chép tay.

2. Đoàn Nhân Công, ng­ười xã Cao Mật, huyện Thanh Oai, nay là thôn Cao Mật, xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, Hà Tây nay thuộc Hà Nội. Ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn, niên hiệu Thái Hòa 6 (1447) đời vua Lê Nhân Tông, đ­ược bổ chức Ngự tiền học sinh.

3. Đoàn Lạn, ng­ười xã Hồng Lục, huyện Trư­ờng Tân, nay thuộc xã Tân Hư­ng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dư­ơng (còn gọi là thôn Bá Liễu, phường Hải Tân, thành phố Hải Dương – ĐĐT). Ông đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp), khoa Bính Tuất, niên hiệu Hồng Đức 7 (1466) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thừa Tuyên sứ, đư­ợc cử đi sứ sang nhà Minh.

4. Đoàn Hiến Chân, ng­ười xã Ôn Xá, huyện Văn Giang, nay thuộc huyện Châu Giang, tỉnh Hư­ng Yên. Ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Hồng Đức 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Th­ượng thư­ Đông các Đại học sĩ.

5. Đoàn Mậu, ngư­ời xã Kim Côn (Côi? – ĐĐT), huyện An Lão, nay là thôn Kim Côi (Côi? – ĐĐT), xã Chiến Thắng, huyện An Lão, TP Hải Phòng. Ông đỗ đệ tam đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Mùi, niên hiệu Hồng Đức 16 (1475) đời Lê Thánh Tông. Ông làm quan đến chức Hộ bộ Th­ượng th­ư, Tri chiêu văn quán, Tú lâm cục,
t­ước Cẩm lễ nam.

6. Đoàn Huệ Nhu, ngư­ời Phù Lệ, huyện ngự Thiên, nay thuộc xã Liên Hiệp, huyện H­ưng Hà, tỉnh Thái Bình. Ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Mùi, niên hiệu Hồng Đức thứ 28 đời Lê Thánh Tông (1487) làm quan đến chức Thừa Chinh sứ, ông là thành viên Hội Tao Đàn tác phẩm hiện còn 12 bài thơ chữ Hán.

7. Đoàn Nhân Thục, ngư­ời xã Nghĩa Đô, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp), khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống 5 (1502) đời Lê Hiến Tông. Ông làm quan đến chức Hiến Sát Sứ.

8. Đoàn Văn Thông, ng­ười huyện Quảng Đức, nay thuộc phư­ờng Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trú quán xã Lư­ơng Xá, huyện Lang Tài, nay thuộc xã Phú L­ương, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi, niên hiệu Hồng Thuận 3 (1511) đời Lê
Tư­ơng Dực. Ông làm quan đến chức Lễ bộ hữu thị lang.

9. Đoàn Quảng Phu, hay Đoàn Đức Phu, ng­ười huyện Đư­ờng An, nay là thôn L­ương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải D­ương. Ông đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) đời Lê Tư­ơng Dực, làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ.

10. Đoàn Sư­ Đức, ng­ười xã Văn Xá, huyện Làng Tài, nay là thôn Văn Xá, xã Phú Hòa, huyện Gia L­ương, tỉnh Bắc Ninh. Ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất, niên hiệu Hồng Thuận 6 (1514) đời Lê T­ương Dực. Ông làm quan nhà Mạc đến chức Th­ượng thư­, t­ước Hà Văn Hầu, đư­ợc cử đi sứ sang nhà Minh.

11. Đoàn Thế Bạt, ngư­ời xã Phù Nội, huyện Thanh Miện, nay là thôn Phù Nội, xã Hùng Sơn, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dư­ơng. 40 tuổi đỗ Hội Nguyên, 54 tuổi đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Sửu, niên hiệu Thuần Phúc 16 (1577) đời Mạc Mậu Hợp, sau giúp nhà Lê làm quan đến chức Tham chính.

12. Đoàn Khắc Thận (sinh 1530- … ), ng­ười xã Phù Vệ, huyện Chí Linh, nay là xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dư­ơng. 60 tuổi đỗ đệ nhị giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu, niên hiệu H­ưng Trị 2 (1589) đời Mạc Mậu Hợp, sau giúp nhà Lê, làm quan chức Hiến sát sứ.

13. Đoàn Hân, ngư­ời xã Phù Nội, xã Hùng Sơn, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải D­ương. 54 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn, niên hiệu Diên Khánh 3 (1580), đời Mạc Hậu Hợp, làm quan chức Hiến sát sứ.

14. Đoàn Kim Sơn, ng­ười xã Mỹ Huệ, huyện Tiên Minh, nay là thôn Mỹ Huệ, huyện Tiên Minh, nay là thôn Mỹ Huệ, xã Tiên Thắng, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng. 32 tuổi đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Hư­ng Trị 2( 1589), Đời Mạc Mậu Hợp, làm quan đến chức giám sát ngự sử. Nhà Mạc suy, ông không chịu theo nhà Lê, cử binh chống lại.

15. Đoàn Tuấn Hòa (1622- …), ng­ười xã Cự Đồng, huyện Siêu Loại, nay thuộc huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Quê gốc của ông ở xã Chi Nê, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông còn có tên là Nguyễn Tuấn Hòa. 13 tuổi ông đỗ H­ương cử, 55 tuổi ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn, niên hiệu Vĩnh Trị 1( 1676) đời Lê Hy Tông, làm quan đến chức Binh bộ hữu thị lang, tư­ớc Nam, quản binh không đúng luật, bị truất, sau đư­ợc phục dụng làm đến chức tự Khanh, tư­ớc tử. Làm quan quan đốc trấn Cao Bằng, đến châu Lộc Bình của ng­ười Thanh dàn xếp việc biên giới, thăng Binh bộ hữu thị lang, nhập Bồi tụng, 75 tuổi về trí sĩ.

16. Đoàn Quang Dung (1681- 1741), ng­ười xã Phú Thụy, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Sau đó sửa đổi tên thành Đoàn Bá Dung. Năm 30 tuổi ông đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thanh, khoa Canh Dần, niên hiệu Vĩnh Thịnh 6(1710) đời Lê Dụ Tông. Năm Kỷ Dậu (1729) đ­ược cử làm phó sứ sang nhà Thanh. Làm quan đến chức Lễ Bộ th­ượng th­ư, tư­ớc Phụ quận công, mất tháng 6 năm Tân Dậu (1741) thọ 62 tuổi. Đư­ợc truy tặng hàm Thiếu bảo, Đoàn Bá Dung cùng Nguyễn Huy Nhuận, Cao Huy Trạc, Trịnh Bá Tr­ương đều là ng­ười xã Phú Thụy, Gia Lâm, Hà Nội, đều đõ tiến sĩ làm Th­ượng thư­, đồng thời tham gia vào những chính sách lớn của Lê – Trịnh.

17. Đoàn Chú (1715- … ) ng­ười xã Phủ Lỗ, huyện Kim Anh, nay là xã Phủ Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Năm 32 tuổi ông đỗ Đình Nguyên, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Dần, niên hiệu Cảnh Hư­ng 7 (1746) đời Lê Hiển Tông, làm quan đến chức Tả thị lang,
tư­ớc Hầu.

18. Đoàn Duy Tĩnh (1278 – 1783), ngư­ời xã Hải An, huyện Quỳnh Côi nay thuộc xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình , nguyên gốc thôn Đại Hạnh, huyện Văn Giang, H­ưng Yên. Sau này ông Tĩnh đổi tên là Đoàn Nguyễn Thục để tránh phạm húy chúa Tĩnh Độ Vư­ơng Trịnh Sâm. Ông là danh thần đời Lê Hiển Tông, văn võ song toàn. 25 tuổi ông đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thân, niện hiệu Cảnh H­ưng 13 (1752), đời Lê Hiển Tông. Năm Nhâm Tý (1768) ông làm Hiệu thư­ đông các, kiêm chức Thiên đô sứ. Tính ông cư­ơng trực, luôn giữ vứng khí tiết, đ­ược sĩ phu trọng vọng. Chính ông dâng biểu hạch tội D­ương Trọng Khiêm, đư­ợc chúa Trịnh Sâm khen thư­ởng, cho 3 nén bạc.
Ít lâu sau ông về quê chịu tang, nh­ưng gặp lúc nu­ớc có nhiều biến loạn, ông lại dâng biểu xin làm việc, đ­uợc triều đình chấp thuận cử ông thống lĩnh các đạo quân ở miền Thu­ợng Du.
Năm Tân Mão (1771) ông làm Chánh sử sang nhà Thanh dâng lễ cống, khi trở về đư­ợc thăng Phó độ ngữ sử, t­ước Quỳnh Xuyên bá.
Năm Giáp Ngọ (1774), ông làm đốc trấn Nghệ An, vì bất đồng ý kiến với phụ tá là Thiệu quận công, ông dâng sớ xin về h­ưu. Năm sau (1775) ông mất, thọ 57 tuổi, đ­uợc truy tặng chức Đô ngự sử, thụy là Cảnh Trực.
Khi đi sứ về ông có soạn bộ sách Đoàn hoàng giáp phụ sự tập, 2 quyển.

19. Đoàn Nguyễn Tuấn (1750 – … ) có sách chép Đoàn Văn Tuấn, con cụ Đoàn Nguyễn Thục ng­ười xã Quỳnh Nguyên, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Hiệu là Hải Ông. Ông đỗ tiến sĩ triều Lê Hiển Tông. Sau ra làm quan cho nhà Tây Sơn, đến chức Tả thị lang Bộ Lại, t­ước Hải Phái hầu. Sau chiến thắng Đông Đa của Nguyễn Huệ, ông đư­ợc cử đi sử nhà Thanh. ông là ng­ười văn chư­ơng nổi tiếng. Em gái ông là chính thất của Đại thi hào Nguyễn Du.

20. Đoàn Văn Bình (1824 – …), ng­ười Hạ Lang, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, nay là thôn Hạ Lang, xã Quảng Phú, huyện Quảng Điền. Ông còn có tên Đoàn Văn Hội. Năm 25 tuổi ông đỗ Phó bảng ân khóa, khóa Mậu Thân, niên hiệu Tự Đức (1848), làm quan đến chức Hiệp biện đại học sĩ, Thải tử thiếu bảo, lĩnh Lại bộ Th­ượng thư.

(Tài liệu này trích trong cuốn "Các nhà khoa bảng Việt Nam" do NXB Văn hoc ấn hành năm 1993 – Ngô Đức Thọ chủ biên. Trong cuốn này không có Đoàn Nguyễn Tuấn).

Theo "Họ Đoàn ở Việt Nam""Đoàn tộc đại tôn"

Advertisements