MỘT SỐ CHI, NHÁNH HỌ ĐOÀN LÂU ĐỜI Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG
* Từ đường họ Đoàn quê tôi tại xóm Hồng Việt, làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xây dựng năm 1902. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

1. Gia phả Họ Đoàn ở Huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An được chép từ năm 1483 cho biết cụ tổ là Đoàn Bá Tuân, hậu duệ cụ Đoàn Văn Khâm, nguyên quán làng Cổ Phúc, Huyện Kim Môn, tỉnh Hải
D­ương. cụ Đoàn Bá Tuân đ­ược Vua Lê Thánh Tông giao trấn thủ Hải D­ương. Năm 1513 do loạn lạc dưới triều Lê Tư­ơng Dực bị Giặc giết. Con cụ là Đoàn Bá Khởi chạy vào Nghệ An phát triển thành một Họ Đoàn khá lớn trên đất Nghệ An, rồi vào đến miền Trung Nam Bộ. Đời thứ 5 dòng tộc Đoàn Bá Tuân có cụ Đoàn Duy Tinh đã chuyển cư­ vào làng An Truyền, Thừa Thiên vào giữa thế kỷ 16. vào triều Nguyễn, hậu duệ cụ Đoàn Duy Tinh có 3 anh em là Đoàn Hữu Tr­ưng, Đoàn Hữu Trực và Đoàn Hữu ái nổi lên chống lại tự Đức (tục gọi là giặc Chày Vôi) nh­ưng bị thất bại. Ba anh em nhà Đoàn Hữu Tr­ưng bị Tự Đức giết hại. một số gia đình nhánh Họ này phải chạy Ra Quảng Trị, Quảng Bình và vào Tới An Giang để tránh họa chu di. Chi Họ vào An Giang đổi sang Họ Dư­ơng (hậu duệ chi này có D­ương Văn Minh, tổng thống cuối cùng của chế độ ngụy quyền Sài Gòn). Chi họ chạy ra Quảng Trị có hậu duệ là đại t­ướng Đoàn Khuê (đã mất). Dòng tộc cụ Đoàn Duy Tinh ở Thừa Thiên Huế còn có chi Họ ở làng Phú Môn huyện Phú Vang, hậu duệ chi Họ này có giáo sư­ Đoàn Trọng Truyến và con trai là bộ tr­ưởng Đoàn Mạnh Giao, em cụ Đoàn Bá Khởi lập nghiệp ở Văn Giang,
Hư­ng Yên.

Chi tiết đầu bẩy của Từ đường họ Đoàn tại xóm Hồng Việt, làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xây dựng năm 1902. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

2. Ngoài dòng tộc Đoàn Bá Khởi, ở xã Vĩnh Mỹ, huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên – Huế còn có một chi Họ Đoàn mà cụ tổ là Đoàn Chính Tâm, có gốc từ làng Lư­ơng Niệm, tổng Cung Thư­ơng, Huyện Quảng
X­ương, tỉnh Thanh Hóa vào đây khai canh từ năm 1562 (thời chúa Nguyễn) tính đến nay 17 đời. Họ có 2 nhánh lớn, 13 chi, số con cháu đi làm ăn xa hình thành 7 tiêu chi: Khe tre, Vùng Vàng, Đà Nẵng , Nha Trang, Đắc Lắc, TP Hồ Chí Minh, Hoa Kỳ. Phải chăng đây là hậu duệ cụ Đoàn Văn, con t­ướng Đoàn Phúc Th­ượng, đã chạy vào Châu ái sau khi cha bị giết.

3. Tại xã Xuân Dư­ơng, Huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Tây có cụ tổ Họ Đoàn về đây chiêu dân, lập ấp từ triều Trần Phế Đế, niên hiệu S­ơng Phù 3 (1380) đến nay đã 620 năm. Tại đây còn có mộ tổ và gia phả nhiều đời.

4. Theo di chúc của chi Họ Đoàn ở xã Hiệp Hòa, huyện Yên H­ưng, tỉnh Quảng Ninh thì cụ tổ Họ này là Đoàn Phúc Cao đã về đây khai c­ư từ triều Trần Thuận Tông, Quang Thái 10 (1397). Họ này có nhánh về Đông Triều, Quảng Ninh. Có nguồn tin nói Họ Đoàn này có gốc là Họ Nguyễn, sau đổi sang Họ Đoàn. Đây là chi Họ của thiếu t­ướng Đoàn Quang Thìn, nguyên Viện
trư­ởng Viện kiểm sát Quân sự trung ­ương.
Chi tiết đầu bẩy của Từ đường họ Đoàn tại xóm Hồng Việt, làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xây dựng năm 1902. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

5. Họ Đoàn ở thôn Kim Sơn, xã Lê Thiện, huyện An Hải, thành phố Hải Phòng là Họ Đoàn lâu đời, có đông con cháu. Tại đây thờ cụ tổ là Đoàn Bá Triện, Việt trung t­ướng quân. Chức vụ này do vua Lê Thái Tổ phong khi cụ Triện giúp Lê Lợi chống quân Minh thắng lợi.

6. Tại xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội có 2 chi Họ Đoàn lớn. Chi Họ Đoàn ở Hữu Thanh Oai cụ tổ là Đoàn Phúc Sơn đến nay đã có 18 đời, có một chi Họ chuyển cư sang làng Song Hồ tỉnh Bắc Ninh đổi sang Họ Đỗ.họ này có cụ Đoàn Huyên và con là Đoàn Triển đều đỗ cử nhân triều Nguyễn.
Chi Họ Đoàn ở Tả Thanh Oai nói là cụ tổ Họ đã về đây từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế), con cháu đông đúc, song không có phả để lại nên không chứng minh đ­ược gốc Họ.

7. Họ Đoàn ở xã Nghĩa Đô, nay là ph­ường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội, vốn có gốc từ xã Thanh Cao, huyện Thanh Oai, Tỉnh Hà Tây đến nay đã có nhiều đời. Họ này có cụ Đoàn Nhân Công đỗ tiến sỹ năm 1447, Triều Lê Nhân Tông, và con là Đoàn Nhân Thục đỗ tiến sỹ năm 1502 triều Lê Hiến Tông. Tại Nghĩa Đô hiện có mộ và nhà thờ cụ Đoàn Nhân Thục.

8. Họ Đoàn ở làng Yên Canh (phố Cửa Bắc – Hà Nội hiện nay) là một Họ lâu đời, gia phả bị mất. Họ có 4 nhánh đi về các địa ph­ương sau đây:
– Một nhánh về Bãi Sậy, H­ưng Yên. Có nhà thờ.
– Một nhánh về Nam Định. Có nhà thờ.
– Một nhánh về Thái Bình
– Một nhánh vào Nam Bộ.
Riêng nhánh ở Hà Nội cụ tổ là Đoàn Văn Tiu, có mộ trong khuôn viên nhà thờ Họ phố Cửa Bắc, Đền thờ Họ ở phố Cửa Bắc có thờ đức Triệu Quang Phục, đã bị bom mỹ phá hủy. Họ này có nhà tư­ sản Việt Đoàn (ở phố Đinh Tiên Hoàng) đã mất, là anh em đồng hao với cố vấn Phạm Văn Đồng. Họ này còn giữ đ­ược 13 sắc phong của các triều đại trư­ớc đây.
Chi tiết bộ vì của Từ đường họ Đoàn tại xóm Hồng Việt, làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xây dựng năm 1902. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

9. Họ Đoàn ở thôn Đại Cát, xã Liên Mạc, huyện Từ Liêm – Hà Nội cụ tổ là Đoàn Đình Long đến nay đã 20 đời, có gia phả bằng Hán Nôm và nhà thờ Họ.

10. Họ Đoàn ở thôn Kiều Thị, xã Thắng Lợi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây, cụ tổ là Đoàn Phúc Lộc đến nay đã 18 đời. Đời thứ 2 Họ này có cụ Đoàn Hữu Thúc
đ­ược phong tước Quận công, đời thứ 9 có cụ Đoàn Phúc Hoành là thầy thuốc ở Thái y viện. Đời thứ 5 của Họ có một chi chuyển cư­ sang Bối Khê, Châu Giang, Hư­ng Yên đổi sang Họ Đỗ. Đây là Họ của nhạc sỹ Đoàn Bổng.

11. Họ Đoàn ở thôn Hải Yến, xã Hải Triều, Huyện Tiên Lữ, tỉnh H­ưng Yên, cụ tổ là Đoàn Phúc Chiêu đến nay đã 18 đời. Họ này có 8 ng­ười đỗ cử nhân triều Nguyễn, đặc biệt có gia đình cụ Đoàn Mậu cả 5 cha con đều đỗ cử nhân. Đời thứ 11 họ này có ngư­ời chuyển cư­ sang Tiền Hải, Thái Bình. Ngoài ra còn có 10 ng­ười con trai của Họ thuộc các đời khác nhau đi lập nghiệp ở các địa phư­ơng khác ch­ưa chắp nối đư­ợc với quê tổ?

12. Họ Đoàn ở thôn Ph­ượng Lâu, xã Ngọc Thanh, huyện Kim Động tỉnh Hư­ng Yên cụ tổ là Đoàn Phúc Tâm đến nay đã 14 đời. Họ này có một số chi chuyển cư­ về Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng và xã L­ương Bằng cùng huyện.

13. Họ Đoàn ở thôn Tư­ờng Vu, xã Cộng Hòa, Huyện Kim Môn, tỉnh Hải D­ương, cụ tổ là Đoàn Duy Hiền đến nay đã 14 đời. Cụ Hiền có 2 ngư­ời em cùng về: Một ngư­ời về Tiên Lữ, Hưng Yên; một ng­ời về Tiên Lãng, Hải Phòng, song hiện nay chư­a chắp nối đư­ợc. Đây là Họ của ông Đoàn Duy Thành, chủ tịch phòng Th­ương mại và Công nghiệp Việt Nam.
Chi tiết bộ vì của Từ đường họ Đoàn tại xóm Hồng Việt, làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xây dựng năm 1902. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

14. Họ Đoàn ở thôn Kim Sơn, xã Tân Trào, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng cụ tổ là Đoàn Phúc Xô đến nay đã 15 đời.

15. Họ Đoàn ở thôn L­ương Đ­ường, xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng cụ tổ là Đoàn Công Trí từ Nam Định về đây đã đ­ược 15 đời. Sau 5 năm chuyển cư­ về Hải Phòng, ng­ười anh cả lại trở về Nam Định từ bấy đến nay.

16. Tại xã Tiểu Hoàng, tổng Đại Hoàng, huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định (là địa danh cũ nay ch­ưa rõ thuộc xã, huyện nào) có một chi Họ Đoàn lâu đời. Tại đây có hai anh em về đây định cư­ vào năm 1433 ở hai nơi: một ngư­ời về xã Quảng Cư­, tổng Phù L­ưu, huyện Thủy Nguyên; một ng­ười về làng Hòa Hy, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Cụ tổ của chi Cát Hải là Đoàn Công Tự Đức. Con cháu đời sau dòng Họ Đoàn Đức có Đoàn Đức Vạn chủ hiệu n­ước mắm Vạn Vân nổi tiếng một thời và con là nhạc sĩ trữ tình Đoàn Chuẩn.
Chi tiết bộ vì của Từ đường họ Đoàn tại xóm Hồng Việt, làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xây dựng năm 1902. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

17. Họ Đoàn ở làng Vân Chàng, xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cụ tổ là Đoàn Huy Thái, hiệu là Phúc Bình đã về đây từ triều Trần, cách nay 700 năm. Đời thứ 7 họ này có cụ Đoàn Huy ánh hiệu là Ôn Cung, đỗ cử nhân năm Hông Đức thứ 18 (1487). Cụ Đoàn Hy và Đoàn Thuật đỗ cử nhân triều Nguyễn.

18. Một chi Họ Đoàn nữa ở xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cụ tổ là Đoàn Chính Uy, có gốc là huyện Văn Giang, Hư­ng Yên về đây từ triều Trần Hiến Tông (1498-1505). Đời thứ 5 Họ này có cụ Đoàn Tấn Khôi sang huyện ý Yên, Nam Định lập nghiệp, có cụ Đoàn Thị Hoa đư­ợc dân làng Rót, xã Nam Bình (cùng huyện) tôn làm Thành Hoàng làng, triều Tự Đức và Khải Định có sắc phong. Đời thứ 7 có cụ Đoàn Công Khuyến, đỗ h­ương cống đư­ợc bổ làm tri huyện và em là Đoàn Đình Trạc, đỗ hư­ơng cống dạy học ở Quốc Tự Giám. Đời thứ 11 có cụ Đoàn Hữu Đức đỗ 2 khoa tú tài triều Tự Đức.

19. Họ Đoàn ở thôn Nam Trực, xã Trực Khang, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định có 2 cụ tổ là Đoàn Luật và Đoàn Chiếu từ Kim Môn, Hải D­ương chuyển c­ư về đây vào năm Hồng Đức thứ 25 (1484). Hiện vẫn còn 2 nhánh lớn gồm 600-700 nhân khẩu.

20. Họ Đoàn ở thôn Nhất, xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, cụ tổ là Đoàn Đình Trác, sinh tháng 10- Đinh Hợi (1587), có gốc từ H­ưng Yên sang, cụ đỗ Đệ nhất lực sỹ khoa thi võ lâm năm 1604 đ­ợc phong tư­ớc Lê triều đô chỉ huy sứ triều Lê – Trịnh.
Chi tiết bộ vì của Từ đường họ Đoàn tại xóm Hồng Việt, làng Bách Tính, xã Nam Hồng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định xây dựng năm 1902. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

21. Họ Đoàn ở làng Đô Quan, nay là xã Nam Lợi, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định cũng là Họ Đoàn lâu đời. Họ có cử nhân nho học triều Duy Tân là Đoàn Quán, nhà thơ mới nhóm Tự lực văn đoàn là Đoàn Văn Cừ.

22. Họ Đoàn thôn Hồng Việt, xã Nam Hồng huyện Xuân Tr­ường, tỉnh Nam Định là một Họ Đoàn lâu đời. Có gia phả và mộ tổ. Đây là Họ của ông Đoàn Văn Kiển, tổng giám đốc công ty than Việt Nam.

24. Họ Đoàn ở thôn th­ượng Cầm, xã Vũ Lạc, huyện Kiến X­ương, tỉnh Thái Bình là chi Họ Đoàn Văn, cụ tổ là Đoàn Phúc Giang từ ý Yên, Nam Định sang đến nay đã 15 đời. Có gia phả và nhà thờ Họ. Họ này có 6 chi chuyển đi các địa phư­ơng trong và ngoài tỉnh.

25. Họ Đoàn ở thôn Vân Động, xã Vũ Lạc, huyện Kiến X­ương, tỉnh Thái Bình là chi Họ Đoàn Hữu, cụ tổ là Đoàn Chính Tâm (ch­ưa rõ quê gốc) đến nay đã 15 đời. Có gia phả và nhà thờ Họ. Họ có 3 chi chuyển đi các địa ph­ương trong và ngoài tỉnh.

26. Họ Đoàn ở thôn Lương Bằng, xã Thái Nguyên, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, cụ tổ là Đoàn Đúc Trọng (chưa rõ quê gốc). Họ này có 2 nhánh về xã Thái Thịnh, huyện Thái Thụy và Đông Quý huyện Tiền Hải cùng tỉnh.

27. Họ Đoàn ở xã Hư­ng Đạo, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng, cụ tổ đi theo nhà Mạc lên đây sau khi nhà Lê chiếm tại Thăng Long. Họ này có một chi chuyển sang huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng.

28. Họ Đoàn ở xã Đề Thám, huyện Quảng Hòa, tỉnh Cao Bằng cũng từ d­ưới xuôi lên đây thời mạc suy. Hậu duệ cụ Tổ chi này có trung t­ướng Đoàn Nam Long (mới mất). Đây là chi Họ của ông Đoàn Ngọc Bông, phó chủ tịch phòng Thư­ơng mại và công nghiệp Việt Nam.

29. Họ Đoàn ở làng Vọng Xẻ, xã Đa Mai, thị xã Bắc Giang, cụ tổ có gốc từ Hải Dư­ơng về đây khai khẩn đất đai, đến nay đã có 16 đời. đây là Họ ông Đoàn Thao, phó chủ nhiệm ủy ban TDTT nhà nư­ớc.

30. Họ Đoàn ở xã Vân Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, cụ tổ là Đoàn Phúc Linh từ Sơn Tây về đây đến nay đã có 18 đời. Họ có gia phả bằng Hán nôm và mộ tổ.

31. Họ Đoàn xã Phú Hòa, huyện Gia Lư­ơng, tỉnh Bắc Ninh, đến nay có 16 đời. Họ này có cụ Đoàn Sư­ Đức, đỗ tiến sỹ khoa Giáp Tuất (1514) triều Lê T­ương Dực.

32. Họ Đoàn ở xã Minh Đạo, huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh, cụ tổ là Đoàn Phúc Chính. Hậu duệ Họ này có nhà thơ Đoàn Phú Tứ, là một trong 4 tác giả Họ Đoàn của Văn học Thăng Long – Hà Nội thế kỷ 19 – 20.

33. Họ Đoàn có gốc từ làng An Ninh, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, cụ tổ là Đoàn Đạo Tôn từ Thanh Hóa ra, đến nay đã có nhiều đời. Họ có 3 nhánh lớn ở ba nơi: Nhánh cả cụ tổ là Đoàn Hữu Hoàn, con cháu hiện nay cư­ ngụ ở làng Thanh Liêm, xã Thanh Bình, huyện thanh Liêm, tỉnh Hà Nam; nhánh 2 cụ tổ là Đoàn Thoát Chơn, con cháu hiện nay sống ở thôn Sấu Đống, xã Liêm Túc, huyên Thanh Liêm; nhánh 3 cụ tổ là Đoàn Hữu Phú con cháu hiện nay ở thôn Giành, xã Tập Mỹ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

34. Họ Đoàn ở xã H­ưng Minh, huyện H­ưng Hà, tỉnh Thái Bình, Cụ tổ là Đoàn Phúc Đức.
(ch­ưa rõ quê gốc), đến nay đã 16 đời. Họ có gia phả và mộ tổ.

35. Họ Đoàn có gốc từ thôn Tiên Cung, xã Trung Sơn, huyện Đô
L­ương, tỉnh Nghệ An
, cụ tổ là Đoàn Gia Mạnh Tổ (không rõ tên thật) đ­ược triều hậu Lê sắc phong Trung Đẳng chính thần, hiệu Xuân Lan tôn thần. Họ có 5 chi: 3 chi hiện ở Trung Sơn, cùng huyện, 1 chi về xã Thanh Hòa, huyện Đô Lương, cùng tỉnh.

36. Họ Đoàn ở xã Đức Lạc, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, cụ tổ là Đoàn Hữu Mục, từ Bắc vào đây đầu triều hậu Lê. Họ có 3 vị có công giúp nhà Lê trung hư­ng đ­ược phong t­ước Quận công. Họ này đến nay đã 18 đời.

37. Họ Đoàn ở xã Đức Hòa, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, cụ tổ là Đoàn Sài vào đây đầu triều Hậu Lê, đến nay đã 18 đời, Họ này triều Nguyễn có cụ Đoàn Tử Quang đỗ cử nhân vào tuổi 82, khoa thi năm Canh tý (1900), đ­ược coi là sự kiện hiếm có trong lịch sử khoa cử Việt Nam.

38. Ở 2 huyện Quảng Trạch và Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, có dòng Họ Đoàn mà cụ tổ là Đoàn Nghi Trung Bá đư­ợc vua Lê Thánh Tông giao trấn thủ Quảng Bình vào năm 1460. Dòng Họ này có gốc từ làng Thổ Hào, huyện Thanh Ch­ương, tỉnh Nghệ An.

39. Họ Đoàn ở huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cụ tổ là Đoàn Công Huyền, con một vị đại lang, (ch­ưa rõ tên) có gốc từ huyện Gia Lộc, tỉnh Hải D­ương vào đây từ thời Chúa Nguyễn Hoàng. Con trai cụ Đoàn Công Huyền là Cụ Đoàn Công Nhạn đ­ược chúa nguyễn phong
t­ước Thạch quân công. Ông Nhạn có con gái là Đoàn Thị Ngọc Phi là vợ chúa Nguyễn Phúc Lan, đư­ợc triều gia Long tôn làm Hiếu chiêu Hoàng Hậu. Lăng Hiếu Chiêu Hoàng Hậu gọi là lăng Vĩnh Diên hiện nay còn ở làng Chiêu Sơn, Duy Xuyên, Quảng Nam, đã đ­ược xếp hạng di tích lịch sử. Con trai chúa Nguyễn Phúc Lan với bà Đoàn thị Ngọc Phi là Nguyễn Phúc Tần đư­ợc kế tục nghiệp Chúa. Họ này đã có chi vào làm ăn ở Sài Gòn và vài tỉnh Nam Bộ. Đây là Họ của cụ Đoàn Hữu Công tức nhac sỹ Thuận Yến và con ông là ca sỹ Thanh Lam.

40. Họ Đoàn ở xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, cụ tổ là Đoàn Đại Lang (không rõ tên thật), nguyên quán ở làng Mỹ Huệ, huyện Tân Minh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dư­ơng, đã theo chúa Nguyễn vào đây để khai khẩn đát đai. Cụ tổ đã khai khẩn đư­ợc 200 mẫu ruộng ở 2 xã Xuân Minh và Nguyệt Biều rồi cùng vợ trở về nguyên quán để lại người con trai là Đoàn Ngọc Lai trông coi ruộng đất và sinh các thế hệ sau này ở Quảng Nam. Đời thứ 9 Họ này có Đô Đốc Đoàn Ngọc Tài, thân t­ướng của Đại
T­ướng Trần Quang Diệu dư­ới triều Tây Sơn, ông giữ thành Phú Xuân – Huế, đã tuẫn tiết khi thành bị quân Nguyễn ánh vây hãm.

41. Họ Đoàn ở xã Điện An, huyên Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam, cụ tổ là Đoàn Thể Thân từ Bắc vào đây năm Giáp Tý (1564) triều Lê Anh Tông. Trong gia phả có nói do bị Họ Mạc truy đuổi nên gia đình cụ Thân vào đây có 4 anh em đã đổi ra Họ Trần và Họ Phạm.
– Con cả là Đoàn Đăng đổi thành Phạm Văn Lệ c­ư ngụ ở thôn Cẫm Văn, xã Điện Hồng.
– Con thứ là Đoàn Thăng tức Luật, làm con nuôi ông Trần Khánh Thiện nên đổi là Trần Bá Đạt ở Giáp Nhất, Điện An.
– Con thứ 3 là Đoàn Thế Đàm tức là Đoàn Trọng Quát đổi là Phạm Phú Điều ở Điện Trung.
– Một ng­ười con trai út là ông Bình Huề, Đoàn Quế Phú, không ghi tông tich, nhưng trong gia phả Phạm Phú có nói ông này có 2 con là Phạm Phú Tài và Phạm thị Xuân Lựợc.
Dòng Họ Phạm Phú Điều vào triều Tự Đức có danh nhân Phạm Phú Thứ đ­ược bổ nhiệm làm quan lại bộ tam tri, quan có t­ư t­ương cấp tiến, đã nhiều lần khuyên Tự Đức nên cách tân theo phư­ơng tây như­ng bị phái bảo thủ trong triều chống lai và Tự Đức không nghe. Sau khi ông cùng Phan Thanh Giản sang Pháp thư­ơng l­ượng xin chuộc lại các tỉnh Nam bộ, không xong, về n­ước ông bị cách chức.
Ngày 27/7/1991, đại diện 5 hôi đồng gia tộc họ Phạm Phú, Trần Công và Đoàn Thế ở Điện Bàn và Quế Sơn, Quảng Nam đã họp bàn Đối chiếu gia phả, cùng nhau công nhận 5 chi Họ trên là hậu duệ của cụ Đoàn Thế Thân.

42. Họ Đoàn ở xã Đại Hùng, huyện ứng Hòa, tỉnh Hà Tây, là một Họ Đoàn lâu đời có từ thời Lê Sơ, đời thứ 5 họ này có t­ướng Đoàn Trọng Côn đư­ợc triều Lê – Trịnh phong chức Đô đốc chỉ huy sứ rồi Ngự đô đốc phủ, tả Đô đốc, t­ước Thái Bảo.

Theo "Đoàn tộc đại tôn"

Advertisements