http://cadao.org/index.php?option=com_content&view=article&id=2489:cao-bng-ngm-ngao-xa-va-nay&catid=97:thng-cnh-min-bc&Itemid=141
Thác bản Giốc – Ngườm Ngao xưa và nay (11/12/2010)

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Xem bài gốc dăng báo Đại Đoàn Kết: http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1434&chitiet=21096&Style=1

Thời kháng chiến chống Pháp, 6-7 năm gia đình tôi từ thị trấn Trùng Khánh (Cao Bằng) tản cư đến ở bản Pò Mười (trước là xã Quang Thành, nay là xã Chí Viễn) rồi Pò Tấu (xã Chí Viễn). Nhà chỉ cách thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy) 10-12 cây số.

Ba năm ở Pò Tấu, phiên chợ nào cha mẹ tôi cũng có mặt ở chợ Bản Giốc, người cắt tóc, người bán hàng xén.

Chợ Bằng Ca (huyện Hạ Lang) đi quá Bản Giốc 10 cây số về phía Bắc, thế mà cha mẹ tôi và mấy người Kinh cùng tản cư như ông Mộc, cậu Quý cũng không bỏ phiên chợ nào. Mờ sáng đã đi, đêm khuya mới về đến nhà. Rất vất vả mà cả nhà vẫn đói rách.

Đến năm tôi học lớp 5 (phổ thông 9 năm) Trường cấp II Trùng Khánh (1954) mới được nhà trường tổ chức đi tham quan thác Bản Giốc và Ngườm Ngao (tiếng Tày cổ là hang hổ). Mọi người cơm đùm cơm nắm đi bộ từ Trường cấp II Bản Đà theo tỉnh lộ 206 đi đến chợ Pò Tấu thì đã xế trưa. Chúng tôi nghỉ ngơi ăn cơm xong ra cuối chợ đứng ngắm cảnh đẹp của Thoong Gọot (thoong tiếng Tày là thác – thác Gọot) cách chừng non cây số, rồi lại đi tiếp.

Thoong Gọot nằm trên sông Quây Sơn, con sông bắt nguồn từ Trung Quốc qua cửa khẩu Pò Peo (xã Ngọc Khê) – nơi có cá trầm hương thơm ngon – sang xã Đình Phong, qua xã Chí Viễn – nơi có nhiều hạt dẻ Trùng Khánh nổi tiếng – rồi đến xã Đàm Thủy – nơi có thác Bản Giốc và Ngườm Ngao.

Dòng sông Quây Sơn có nhiều đoạn chảy men theo đường tỉnh lộ 206, chúng tôi vừa đi vừa ngắm những chiếc “cọn” quay kẽo kẹt đưa những “bẳng” chứa đầy nước từ dưới sông đổ lên mương dẫn đến những thửa ruộng ở trên cao. Những chiếc cối giã gạo dùng trọng lượng nước thay cho chân người dẫm, nhịp chày đều đặn lên xuống nghe thình thịch, êm tai và đẹp mắt.

Dòng sông có khúc mở rộng đến vài trăm mét, ở giữa nổi lô nhô những gò đá, trông như hòn đảo, xa xa là những khóm tre xen trong nếp nhà sàn, khói bếp hòa vào sương núi trông cảnh sắc thơ mộng hữu tình. Dòng sông chảy qua chân núi Cô Muông, qua các cánh đồng, bãi ngô, xòe ra thành nhiều nhánh, đột ngột hạ thấp xuống khoảng 35 m, tạo thành thác Bản Giốc. Phía Bắc thác tạo thành ba cấp dài, nguồn nước nhiều, rất đẹp còn gọi là thác chính. Thác phụ ở phía Nam, chỉ có một cấp cao. Tuy vậy, do khi chiêm ngưỡng không có sự tách bạch nên toàn thể thác Bản Giốc có cao có thấp rất hài hòa với rong rêu, cây cối, núi non chung quanh nên cảnh sắc đẹp tuyệt vời.

Chúng tôi đến Bản Giốc, ngày ấy chỉ có hơn chục nóc nhà. Không như phố Trùng Khánh hay chợ Pò Tấu người dân đều xây dựng nhà đất để ở. Ở đây vẫn là những nếp nhà sàn, trâu bò lợn gà nhốt ở dưới, người ở trên sàn.

Sau khi đã ổn định các lớp vào ở nhờ nhà dân, chúng tôi ra ngoài ruộng ngắm cảnh sông núi. Từ đây nhìn ra thác chỉ thấy màn hơi nước bốc cao trắng xóa ở chân núi và tiếng thác gầm reo đến rộn ràng. Sáng hôm sau, toàn trường xuống vạt đất bằng phẳng dưới chân thác cắm trại. Các anh lớn tuổi chặt cây dựng lều căng những tấm vỏ chăn làm mái xếp theo hàng đều tăm tắp. Chúng tôi được tắm thỏa thuê. Mấy anh bơi giỏi sang cả bờ bên kia sông, ở đấy chỉ có cây cối mọc hoang và nương rẫy, rất vắng người. Thỉnh thoảng mới thấy người làm nương chống mảng quay về bản phía bên này sông.

Có lẽ chúng tôi là lớp người đầu tiên cắm trại ở bên dòng thác đẹp tuyệt vời nhất nước này.

Buổi chiều, chúng tôi tổ chức khám phá một hang động cách thác Bản Giốc chừng 3, 4 cây số. Chúng tôi đến nơi rồi mà vẫn chưa tìm ra cửa vào hang. Nơi đây cây cối um tùm, vách đá dựng đứng, lá han mọc khắp nơi, chạm vào đau buốt vô cùng. Mấy anh lớn tuổi xung phong lên trước, tìm mãi mới thấy cửa hang rất nhỏ hẹp. Chúng tôi phải kéo nhau lên từng người một mới chui được vào cửa hang. Ngoài trời nóng thế mà trong hang mát lạnh. Gió rít từng hồi. Đi được độ vài mét thì thấy hiện lên trước mắt một không gian cao rộng mênh mông, cả trường đứng lọt thỏm trong một góc hang. Các nhũ đá từ dưới mọc lên, từ trên buông xuống, hình thù đa dạng, muôn hình vạn trạng, màu sắc óng ánh, nhìn vào chỗ nào cũng rất đẹp. Mỗi chúng tôi tha hồ mà tưởng tượng, ai ai cũng suýt xoa, mồm không ngớt thốt lên điệp khúc: Trời ơi, đẹp quá! Trời ơi đẹp quá! Những nhũ đá là do từng giọt nước chứa vôi nhỏ xuống hết ngày này sang ngày khác, hết năm này sang năm khác mà thành. Chúng tôi nói với nhau, thế thì lâu lắm, chắc từ ngày xưa những nhú đá đã to thế này rồi.

Các cụ ở Bản Giốc cho biết: hang này dài rộng lắm, thông cả sang cửa Ngườm Ngao và cửa hang Bản Thuôn xa đến mấy cây số.

Có lẽ chúng tôi là những đoàn đông người khám phá hang động ở đây sớm nhất, chỉ sau người Pháp đã đến đây từ năm 1921, sau đó chẳng mấy ai dám vào hang vì khu vực này ngày ấy là tổ cọp. Trong thời gian chúng tôi đến tham quan thì hổ còn nhiều lắm.

Năm 1972, máy bay Mỹ chưa bắn phá tới Cao Bằng nên tôi đưa vợ con lên thị trấn Trùng Khánh sơ tán. Ít tháng sau tôi đưa bố, anh và em vợ lên thăm gia đình. Nhân dịp này tôi đưa bố vợ và anh em nhà vợ đi thăm thác Bản Giốc. Đi bằng xe đạp, sáng đi chiều về. Nước cạn nên buổi trưa tắm sông thỏa thích. Hôm ấy, nhìn sang phía bên kia sông còn heo hút lắm, xung quanh thác Bản Giốc vẫn không có ai ngoài gia đình chúng tôi.

Năm 1998, nhân 50 năm gia đình tôi sống ở bản Pò Mười, tôi đã cùng nghệ sĩ nhiếp ảnh Hà Tường đến Pò Mười ngủ một đêm. Sáng hôm sau chụp cảnh bừa ruộng tập thể, chụp ảnh sông Quây Sơn và thác Bản Giốc. Ngày ấy phía Việt Nam chỉ có lèo tèo vài ngôi nhà tranh vách đất ở đầu dốc xuống thác, đó là đồn biên phòng. Bên kia sông Quây Sơn, Trung Quốc đã xây một khu du lịch, nhà cao 2-3 tầng, có chòi ngắm cảnh, làm đường ra thác tham quan và vài ba chiếc mảng chở khách ra giữa sông ngắm cảnh.

Gần đây, tôi lại trở về Pò Mười. Ngườm Ngao giờ đã khai thác dịch vụ du lịch. Trong hang đã có điện sáng. Có lẽ muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp tự nhiên thì nên sớm đến thăm. Tôi thấy bàn tay con người đã bắt đầu làm khô cứng nhiều nơi, nhất là những lối đi đã thấy vết đập phá, bậc xi măng xây phẳng phiu, láng phẳng lì làm mất đi những sóng đá nhấp nhô rất nên thơ. Ngườm Ngao là rừng nghệ thuật, mọi tác động của con người phải từ bàn tay khéo léo của nghệ nhân, đôi mắt nhìn tinh túy của nghệ sĩ.

Ngườm Ngao là tài sản vô giá. Thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng cho Cao Bằng một không gian thần tiên, đa dạng về hình dáng, phong phú về màu sắc, đẹp cực kỳ từng cm. Tôi rất ngại, nếu không biết giữ gìn và tôn trọng thiên nhiên thì số phận của nó không sớm thì muộn sẽ giống như các hang động ở vịnh Hạ Long, đồ dởm bằng xi măng tràn lan ở khắp nơi. Màu sắc bịa đặt. Thật giả lẫn lộn. Tự đánh mất tài sản quý giá của mình.

Bây giờ người ta đang dựa vào những hình thù tự nhiên dựng nên những câu chuyện huyền hoặc, huyền thoại, thần thánh tiên bụt hóa làm cho nhiều người mê hoặc. Đừng thêu dệt những chuyện nhảm nhí vào thiên nhiên, bản thân giá trị của nó đã quá đẹp rồi.

Điều đáng ngại là quanh khu du lịch Ngườm Ngao thấy bán rất nhiều nhũ đá. Nếu không ngăn cấm thì chẳng bao lâu những nhũ đá Ngườm Ngao sẽ bị dời đến các dinh thự, nhà hàng khắp nơi, kể cả ở nước ngoài.

(Theo Báo Đại Đoàn Kết)

Advertisements