PHÁT HIỆN MỎ ĐÁ NÚI RÚ THẦN LÀ NƠI CUNG CẤP ĐÁ XÂY THÀNH NHÀ HỒ
* Rú Thần, thôn Thọ Vực, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, nới đây còn nhiều dấu tích là mỏ đá xây dựng thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Một địa điểm khác, theo tôi có cơ sở khoa học hơn, ở ngay quê hương nhà báo Hoàng Sơn trong đoàn đi khảo sát của chúng tôi, đó là núi Rú Thần, thuộc thôn Thọ Vực, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc. Chúng tôi đã trèo lên núi khảo sát rất nhiều khối đá cho thấy, đây là núi đá vôi kết cấu theo nhiều tầng lớp có mạch nằm phẳng ngang. Tại hiện trường, các khối đá lớn nhỏ nằm ngổn ngang như đang khai thác.

doanducthanh-KIẾN TRÚC VIỆT: Tôi đã đến thành nhà Hồ (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa) nhiều lần, có những lần đi cùng với giới kiến trúc sư, lần gần đây nhất cũng ngót 2 năm (14-11-2009), chuyến ấy đi cùng với các nhà báo do Nhà xuất bản Kim Đồng tổ chức. Từ ngày Ủy ban Di sản Thế giới thuộc Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO), công nhận thành nhà Hồ là di sản Văn hóa Thế giới, (27-6-2011), thì đây là chuyến đi đầu tiên (4-9-2011), do Truyền hình Thông tấn xã Việt Nam tổ chức. Chuyến đi này chúng tôi đã tìm hiểu sâu về nguồn cung cấp đá để xây lên bức thành đá khổng lồ có một không hai: Thành nhà Hồ. Trong đoàn chúng tôi có nhiều thuận lợi: TS Vũ Thế Long, trước đây công tác ở Viện Khảo cổ; Đoàn Đức Thành, nhà kiến trúc; các nhà báo Hoàng Sơn, Cao Mạnh Tuấn, quê ở ngay trong huyện Vĩnh Lộc và nhà báo Huy Thông, huyện Ngọc Lạc, Thanh Hóa…
* Một tảng đá trên núi Rú Thần, thôn Thọ Vực, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc được người xưa kê cao sơ chế trước khi vận chuyển. Ảnh: Hoàng Sơn.

Chỉ một tháng sau ngày UNESCO công nhận thành nhà Hồ (Thanh Hóa) là Di sản Văn hóa Thế giới (27-6-2011), một số các phương tiện truyền thông đã đồng loạt thông tin phát hiện mỏ đá xây thành nhà Hồ tại núi An Tôn, Vĩnh Yên, Vĩnh Lộc, cách chân thành chừng 2 km về phía Bắc.
Đầu tháng 9 này, chúng tôi đã đến núi An Tôn nghiên cứu về nguồn vật liệu xây dựng thành nhà Hồ.
Đến nơi đây, chúng tôi rất tiếc, khi biết rằng vào thập niên 1960 đến cuối thế kỷ XX, nơi đây đã liên tục là công trường khai thác đá làm vật liệu xây dựng. Do vậy, hiện trường nơi đây chỉ có đá vụn, không còn dấu vết gì để minh chứng đây là mỏ đá xây thành nhà Hồ. Hiện nay chỉ còn sót lại vài tảng đá, nửa nằm sâu dưới mặt đất, nửa nằm trên mặt đất, chưa rõ tổng thể những tảng đá này ra sao (mới được đánh số ký hiệu). Vì vậy, theo tôi, nếu coi núi An Tôn là hiện trạng để xác định đây là mỏ đá xây thành nhà Hồ, như các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin gần đây, e rằng hơi vội vàng và minh chứng chưa có gì là chắc chắn. * Tảng đá này tôi ghi hình tại núi An Tôn, tháng trước một số người đã coi là đá xây dựng thành nhà Hồ, (vừa được đánh số ký hiệu), nhưng theo quan sát của tôi, vết đục đẽo còn rất mới, không thể là dấu tích 600 năm khi xây dựng thành nhà Hồ. Lời nhận xét và ảnh: KTS Đoàn Đức Thành.* Tảng đá này tôi ghi hình tại núi An Tôn, tháng trước một số người đã coi là đá xây dựng thành nhà Hồ, (vừa được đánh số ký hiệu), nhưng theo quan sát của tôi, vết đục đẽo còn rất mới, không thể là dấu tích 600 năm khi xây dựng thành nhà Hồ. Lời nhận xét và ảnh: KTS Đoàn Đức Thành.

Một địa điểm khác, theo tôi có cơ sở khoa học hơn, ở ngay quê hương nhà báo Hoàng Sơn trong đoàn đi khảo sát của chúng tôi, đó là núi Rú Thần, thuộc thôn Thọ Vực, xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc. Chúng tôi đã trèo lên núi khảo sát rất nhiều khối đá cho thấy, đây là núi đá vôi kết cấu theo nhiều tầng lớp có thớ mạch nằm phẳng ngang. Tại hiện trường, các khối đá lớn nhỏ nằm ngổn ngang như đang khai thác. Còn những dấu vết do con người tác động như: Lớp đá tai mèo trên cùng bị vạt phẳng trôi xuống vực; lại có nhiều tảng đá đã được bóc tách, đang khai thác dở dang, có mấy lớp đá kê từ dưới lên thon dần, hở phần dưới cao vài chục cm đến 1 mét để sơ chế dễ dàng trước khi vận chuyển. Các tầng lớp đá và kết cấu đá khá trùng hợp với chiều dày của đá xây dựng thành nhà Hồ: cao phổ biến từ 30 cm đến 1,5 m. Hầu như những tảng đá phù hợp với kích thước đá xây thành đã được chuyển đi trước, những tảng đá lớn hơn được kê cao để sơ chế dang dở sẽ chuyển sau nên còn lại đến ngày nay. Núi Rú Thần là núi đá vôi kết cấu theo nhiều tầng lớp có thớ mạch nằm phẳng ngang, các kích thước thớ đá phù hợp với chiều cao các lớp đá xây thành nhà Hồ. Ảnh: Hoàng Sơn.* Núi Rú Thần là núi đá vôi kết cấu theo nhiều tầng lớp có thớ mạch nằm phẳng ngang, các kích thước thớ đá phù hợp với chiều cao các lớp đá xây thành nhà Hồ. Ảnh: Hoàng Sơn.* Núi Rú Thần là núi đá vôi kết cấu theo nhiều tầng lớp có thớ mạch nằm phẳng ngang, các kích thước thớ đá phù hợp với chiều cao các lớp đá xây thành nhà Hồ. Ảnh: Hoàng Sơn.* Tảng đá trên núi Rú Thần đã được người xưa bóc tách, đang khai thác dở dang, có mấy lớp đá kê từ dưới lên thon dần, hở phần dưới cao vài chục cm đến 1 mét để sơ chế dễ dàng trước khi vận chuyển. Ảnh: Hoàng Sơn.* Trên đỉnh núi Rú Thần ngổn ngang những tảng đá đang khai thác. Ảnh: Hoàng Sơn.

Phương pháp khai thác đá thủ công của người xưa vẫn còn lưu truyền đến ngày nay ở địa phương này, đó là việc dùng con chêm đá vát cạnh hoặc nhọn. Người thợ đá quan sát các thớ đá, vừa đục vào các thớ đá vừa chêm dần từng ly một để bóc tách khối đá rời dần khỏi nhau. Lớp chêm sau to hơn lớp chêm trước. Khi tạo được khoảng cách nhất định thì dùng đá mỏng để kê từng góc tảng đá, nâng dần khoảng trống để thao tác sơ chế dễ dàng, sau đó bẩy khối đá lao xuống theo đường nghiêng định sẵn ở chân núi, từ đó vận chuyển ra sông chở đến thành nhà Hồ theo đường thủy chứ không phải đường bộ. Trên hiện trường chúng tôi thấy nhiều cái chêm như thế. Nhìn vào hiện trạng, tôi phỏng đoán: Núi Rú Thần khi chưa khai thác đá xây thành nhà Hồ thì khá cao, dài và rộng hơn hiện nay rất nhiều. Có thể khẳng định, núi Rú Thần là một trong những công trường chính có quy mô lớn để người xưa khai thác đá xây dựng thành nhà Hồ. Hiện nay còn lại rất nhiều dấu tích đến ngày nay để khẳng định điều này.
Theo nhà báo Hoàng Sơn, các cụ cao tuổi trong thôn Thọ Vực kể lại, trước đây từ núi Rú Thần có khúc sông đào nối với sông Bưởi đưa nước chảy vào hào nước xung quanh thành nhà Hồ. Đây chính là đường thủy vận chuyển đá xây dựng thành nhà Hồ. Từ giữa thập niên 50 thế kỷ trước, sông bị lấp từng khúc để nhân dân định canh, định cư. Quan sát của chúng tôi, nhiều khúc sông đến nay chưa lấp hết, đang là những đầm ao. Điều rất đáng quan tâm, với con sông này dùng để chở đá từ mỏ đá đến thành để xây dựng rất thuận tiện, đỡ vất vả hơn chở bằng đường bộ nhiều.
Hiện nay, ở cổng thành Nam nhà Hồ có trưng bày một số viên bi đá và thuyết minh rằng những viên bi này kết hợp với những con lăn gỗ để vận chuyển những khối đá theo đường bộ, dùng trâu bò và voi kết hợp với người để kéo đá từ nơi khai thác đưa về thành. Theo tôi, đây cũng không có cơ sở khoa học. Vì cả vùng xung quanh thành nhà hồ là đầm lầy, nước nhiều, không lẽ lại làm đường kiên cố khó vận chuyển, trong khi vận chuyển bằng đường thủy tiện lợi và nhanh hơn nhiều. Vì vậy những viên bi đá này chính là những viên đạn bắn từ trên mặt thành xuống quân thù xâm lược.
Từ đặc điểm núi đá vôi kết cấu theo nhiều tầng lớp có thớ mạch nằm phẳng ngang, các kích thước thớ đá phù hợp với chiều cao bức thành đá, ông cha ta đã sớm biết khai thác những yếu tố phong phú đó, để nhanh chóng xây dựng được bức tường thành bằng đá chắc chắn, thẩm mỹ cao: Thành nhà Hồ.
Xác định mỏ đá núi Rú Thần, một trong những nguồn cung cấp vật liệu xây dựng thành nhà Hồ đã làm phong phú thêm một di sản kiến trúc vừa được UNESCO công nhận. Chúng ta bảo tồn di sản thành nhà Hồ, đồng thời cũng nên bảo tồn núi Rú Thần một cách xứng đáng./.

———————————————————
* KTS Đoàn Đức Thành và biên tập viên truyền hình Yên Khương tại cổng phía Nam thành nhà Hồ. Ảnh: Hoàng Sơn.

Thành nhà Hồ

Thành nhà Hồ nằm trên địa phận bốn thôn Tây Giai, Xuân Giai, Thượng Giai và Đông Môn, thuộc hai xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá. Nơi đây là kinh đô của Việt Nam từ năm 1397-1407.
Quần thể Di sản thành nhà Hồ bao gồm 3 phần:
Thứ nhất, là La Thành và rào tre;
Thứ hai, là tường thành và hào nước;
Thứ ba, là khu vực Thành Nội.
Khu vực Thành Nội gồm nhiều công trình như: Điện Hoàng Nguyên Hoàng, cung Nhân Thọ, cung Phù Cực, Đông Cung, Đông Thái Miếu, Tây Thái Miếu và các điếm canh… được nối với nhau bằng những con đường lát đá cẩm thạch.
Khu vực bên ngoài của thành có các công trình như cung Bảo Thanh (Ly Cung), Đàn tế Nam Giao, đường gạch hoa dẫn đến tế đàn, con đường thiên lý dẫn từ thành đến Hóa Châu.
Thành được xây dựng từ năm 1397-1401 và một số lần tu sửa được tiếp tục từ năm 1403.
* Những viên bi dùng để vận chuyển đá xây thành nhà Hồ hay đây là nhứng viên đạn bằng đá?. Ảnh: Đoàn Đức Thành

Phương pháp xây dựng
Tòa thành được làm từ một khối lượng đá rất lớn được khai thác từ các dãy núi của tỉnh Thanh Hóa. Các khối đá dùng để xây dựng thành được vận chuyển bằng cách lăn trên những khúc gỗ tròn và các hòn bi đá lớn để giảm ma sát. Khi thi công, đá được kéo lên cao trên những con đường dốc được đắp bằng đất. Các khối đá được cố định với nhau rât vững chắc mà không cần đến vữa nhờ vào trọng lượng của mình.
Để xây dựng các cổng thành, đầu tiên, một khung cửa bằng đất được làm, sau đó đá sẽ được xếp lên chiếc khung này để tạo thành hình của cổng. Đất sẽ được chuyển đi khi việc xây dựng cổng hoàn thành. Phần vòm của các cổng gồm những phiến đá xếp khít lên nhau theo kiểu múi bưởi.
Toàn bộ tòa thành bằng đá được xây dựng theo hình chữ nhật với hai mặt Bắc – Nam (trước sau) dài gần 900m, hai mặt Đông – Tây (trái – phải) dài khoảng 700m, với phần tường cao 5 – 6m, bức tường cao gần cổng phía Nam là 10m. * Cổng Nam, còn gọi là cổng chính, thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Một đoạn tường thành nhà Hồ, cổng Nam (mặt ngoài). Ảnh: Đoàn Đức Thành* Một đoạn tường thành nhà Hồ, cổng Nam (mặt ngoài). Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Một đoạn tường thành nhà Hồ, cổng Nam (mặt ngoài)còn đang xây dựng dở dang. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

Các khối đá làm tường thành được đẽo gọt cẩn thận thành các khối vuông vức với kích thước 1,4 x 1 x 0,7m; một số khối có kích thước 4 x 1,2 x 1,2 m và 5,1 x 1 x 1,2 m.
Thành có bốn cửa tại trung tâm của bốn mặt Đông, Tây, Nam, Bắc. Trong đó cổng Nam là cổng chính, dài 34m; cao 10m; dày 15,6m; được xây dựng với 3 cổng vòm như tam quan ở cổng chùa. Trong đó, cổng vòm ở giữa cao 8,5m; hai cổng bên cạnh cao 7,8m.
Ba cổng Bắc, Đông, Tây chỉ có một vòm cổng. Cổng Bắc dài 20,2m dài, cao 7,5 m, dày 13,7m; vòm cổng cao 6,6m, rộng 5,8m. Cổng Đông dài 23,3m; dày 13,4m; rộng 5,7m; vòm cổng cao 6,6m. Cổng Tây dài 19,3m; dày 13,4m; rộng 5,7m; vòm cổng cao 6,1m.* Cổng Bắc thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Cổng Bắc thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Cổng Bắc thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Lỗ chôn móng vọng lâu đài trên mặt cổng Bắc thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Mặt nhìn từ trên cổng Bắc thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.
* Cổng Đông thành nhà Hồ. Tảng đá sát cổng dài 5,00 m cao 1,10 m. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* KTS Đoàn Đức Thành và TS Vũ Thế Long trên nóc cổng Đông thành nhà Hồ. Ảnh: Hoàng Sơn.* Phần mái cổng Đông thành nhà Hồ đang xây dựn dở dang, chưa hoàn chỉnh. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Thành mặt Đông thành nhà Hồ. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

Gần cổng thành chính còn lưu giữ đôi rồng khắc đá có trang trí hoa cúc và các móc hoa lượn mềm mang phong cách thời Lý và đầu thời Trần. Ngoài ra còn có nhiều viên gạch vuông chạm hoa với kích thước 35cm x 35cm và nhiều loại gạch trang trí khác được tìm thấy ở nơi đây.

Tính nguyên bản và toàn vẹn của di tích

Thành nhà Hồ được Ban Quản lý di tích và danh thắng của tỉnh Thanh Hóa quản lý. Các di tích của thành nhà Hồ đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia kể từ ngày 28-4-1962. Việc quản lý, bảo vệ khá thuận lợi vì không có các hộ dân cư sinh sống trong khu vực di tích.
Sau 600 năm, tòa thành vẫn giữ được kiến trúc bằng đá với hình thức gần như nguyên bản. Chỉ có khu vực sinh sống và cung điện hoàng gia trên trong thành đã bị sụp đổ và chôn vùi theo thời gian. Hiện nay, thành nhà Hồ đã được tu bổ, tôn tạo.
Một số hoạt động khảo cổ học đã được tiến hành gần đây, cụ thể là các dự án hợp tác với Nhật Bản từ năm 2002 nhằm mục đích thu thập, phân tích các dữ liệu về triều đại Hồ, thành nhà Hồ, qua đó làm rõ cấu trúc và những thay đổi của tòa thành qua các thời kỳ lịch sử.
Thành nhà Hồ có thể được so sánh với các tòa thành cổ khác trên thế giới, ví dụ như như thành phố cổ và pháo đài Derbent nằm trên đường đường biên giới phía bắc của Đế chế Sasanian Ba Tư, ngày nay thuộc nước Cộng hòa tự trị Dagestan, Liên bang Nga.

(theo UNESCO World Heritage Centre)

Advertisements