Chữ nôm Tày

Y PHƯƠNG

Gần cạn cả một đời người, tôi vẫn mải miết biêng biêng sống, tý tởn sống trên mây trên gió. Nhưng kể từ ngày được hưởng chế độ hưu trí, tôi mới chợt nhớ dân mình có lưng vốn chữ nôm Tày. Ở quê tôi người ta gọi là slư nam. Một kiểu chữ được tiền nhân sáng tạo ra, trên cơ sở âm và hình của Hán ngữ. Nó đã được Tày hóa và đắc dụng trong xã hội cả một thời gian dài.
Slư nam là tài sản tinh hoa văn hóa vô cùng thiêng liêng và cao quý của cha ông người Tày. Kiểu chữ này được phổ biến ở các tỉnh miền núi Việt Bắc và Tây Bắc. Biết bao thư tịch, văn chương, gia huấn, giáo lý…nằm cả trong “túi khôn” này.
* Nhà thơ Y Phương. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

Và thật buồn, ngày nay còn mấy ai đọc được? Slư nam đã mù mờ như sương móc. Nhưng hồn vía slư nam vẫn đang bao phủ trên khắp mọi nẻo đường, nơi chúng ta thường xuyên ăn ngủ và thở.

May thay, những văn bản “khon” sách slư nam vẫn còn được lưu giữ trong dân chúng. Sách slư nam được bao bọc bằng một thứ bìa. Thứ bìa ấy có một không hai trên đời này. Đó là những tấm giấy dó bồi đi bồi lại bằng nhựa quả hồng chát. Chúng trở thành tấm bìa cứng, bền và dai. Nó lên màu cánh gián. Càng dùng lâu bìa càng bóng nhẫy. Đặc biệt nó không thấm nước và không hề bắt lửa. Tôi vẫn nhớ trên mình “khon” sách thoang thoảng bốc ra mùi rượu nâu và khói hương trắng đục. Trắng đục như sữa dê, như mây ùn ùn căng mọng nước.

Vì thế, sách không còn là vật chất nữa. Nó là biểu tượng chữ nghĩa, tri thức của một dân tộc.

Nhưng lâu rồi, sách nôm Tày đã trở thành của bị bỏ quên và chúng đang dần dần tự hoại. Những cuốn sách vật vã nằm trong các xó xỉnh lẫn với chuột gián. Con cháu chắt không còn ai quan tâm gìn giữ, vì chúng không biết đọc. Sách của cha ông ta mà coi như một thứ ngoại ngữ. Đau!

Vậy, lâu nay con cháu người Tày vô tình hay vô trách nhiệm trước di sản dân tộc? Câu hỏi này xin nhường các vị có trách nhiệm lãnh đạo tư tưởng văn hóa nước nhà.

Không. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước hết là những văn nghệ sỹ trí thức người dân tộc Tày. Họ được coi là những người có “đôi mắt sáng”. Nhưng họ bỗng nhiên lơ là, bỏ quên chữ viết của dân tộc mình.

Nói thế cũng chưa đủ và khách quan. Bởi từ lâu, không ở đâu người ta mở lớp dạy chữ nôm Tày. Những con chữ nằm bẹp dí trong các lớp giấy dó. Tiếng nói của cha ông đã bị đắp chiếu, mặc cho thời gian phủ bụi một cách không thương tiếc.

Các thế hệ con cháu chúng ta (kể cả thế hệ chúng tôi đây, những người sinh ra và lớn lên trong lòng chế độ XHCH) chỉ mải mê học các thứ tiếng dân tộc lớn khác. Học một cách hào hứng. Chỉ vì các thứ chữ ấy liên quan thiết thực đến dạ dày dạ mỏng. Người thông thạo tiếng Tây, nó nằm trong tiêu chí đề bạt cất nhắc. Được đi du học. Được tiến thân. Được rất nhiều thứ thơm phức sáng choang. Một phần nhờ cái thứ tiếng xù lù xà là xa lạ này mang lại cho họ. Bởi thế, ở các thành phố lớn, trẻ con được cha mẹ gửi chúng đi học tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hàn, tiếng Nhật…từ rất sớm. Và việc làm này đang trở thành một trào lưu thời thượng.

Còn slư nam khó học, khó viết và khó nhớ. Dạng chữ ấy ít được dùng trong sáng tác thơ ca, chưa bao giờ được thể hiện trong nghiên cứu khoa học đương đại. Đó là thứ chữ khó vào đầu hạng nhất, lại còn bị mọi người trong xã hội xa lánh. Họ coi là chữ cổ lỗ sĩ, không còn hợp thời. Những người biết slư nam, là ông thày đồ, thày mo, thày tào, thày tướng số, thày địa lý…Những trí thức bình dân, cả đời không ra khỏi bản. Đứng trước hiên tượng đau lòng này, các vị chỉ còn biết ngửa cổ lên trời mà thở dài. Đúng như cụ Nguyễn Du đã từng than: “ …cổ kim hận sự thiên nan vấn…”

Tôi còn nhớ. Đó giai đọan cách mạng, vào những năm 60 của thế kỷ trước, những người có chữ slư nam bị chính quyền xã huyện, xem họ là những người tuyên truyền mê tín dị đoan. Các ông ấy được ban tuyên huấn, cơ quan thông tin văn hóa huyện, tỉnh… gọi đến, tập trung cải tạo. Những ông thày “mắt sáng” bị làm kiểm điểm, thề thốt hứa hẹn, từ nay xin cai hẳn nghề thày mo thày cúng thày tào. Còn các cuốn sách, văn bản viết bằng slư nam thì bị tịch thu. Họ đem đốt đi, hoặc tiêu hủy bằng mọi cách dã man tàn bạo theo kiểu tư duy của hạng người vô học.

Những tai hại to lớn ấy, quả thực, nó đã đi từ suy nghĩ và việc làm cực kỳ giản đơn, cực kỳ thiển cận và cực kỳ ấu trĩ. Tai hại ấy, thật không sao kể xiết. Những người lãnh đạo các cấp xã huyện …ngày đó, hầu hết xuất thân từ những gia đình thuộc thành phần cơ bản. Họ là những con cái bần cố nông thất học. Nhưng nhiệt tình cách mạng thì có thừa. Sự dốt nát cộng với nhiệt tình, đã phá hoại văn hóa truyền thống dân tộc, không biết bao nhiêu mà kể.

Sự sáng tạo văn học nghệ thuật, thời nào và ở đâu cũng phải có tính kế thừa truyền thống của dân tộc mình. Không ai có thể sinh ra tác phẩm văn nghệ để đời, trong hoàn cảnh “chân không bén đất cật không bén giời”. Văn hóa truyền thống là bầu sữa mẹ. Kể từ lời ăn tiếng nói đến tư duy hình tượng, phải là đi từ dân tộc mình. Cảm xúc yêu ghét nhớ nhung thù hận …cũng phải theo cách riêng của dân tộc mình. Truyền thống văn hóa tự chảy trong máu và hít thở trong lá phổi. Không có nó, tác phẩm chỉ là đứa con hoang không giá thú. Văn thơ do anh sáng tạo, sẽ không có dấu ấn gì riêng biệt. Nó là sản phẩm hàng chợ ế ẩm. Thế thôi.

Ngày nay, không hiếm người cổ vũ cho những phong cách, kiểu sáng tác như thế này thế kia được cho là mới. Ý họ cho rằng, nếu không thế không theo kịp nhân loại, ta sẽ bị thiệt thòi, là “dại dột”. Tôi cho đây là một tín hiệu đáng mừng. Họ quả là những người có lòng nhiệt tình với không gian sáng tạo nghệ thuật nước nhà.

Nhưng nghĩ cho cùng, công việc sáng tác nó đòi hỏi phải mới từng ngày. Không mới, sao gọi sáng tác. Bản thân hai chữ sáng tác đã nói lên tinh thần làm mới rồi. Không cần anh cổ vũ, người ta cũng tự đổi mới. Và họ lặng lẽ tự đổi mới một cách quyết liệt. Còn những người nhiệt tình hô hào, thuyết giảng đổi mới, thì tác phẩm hình như vẫn đơn giản và cũ kỹ một cách thảm hại. Bằng chứng là tác phẩm do họ viết ra, nó còn nằm ở đâu đó, chứ không thấy người ta bàn tán bình phẩm. Và nhớ. Thế mới lạ.

Tác phẩm văn nghệ tuyệt hay, đương nhiên hội đủ các yếu tố tài năng nổi trội, phải có tư tưởng nhân văn cao cả, phải có tình cảm lành mạnh trong sáng, và những ý tưởng sáng tạo nghệ thuật độc đáo…Nhưng nhất thiết phải có dấu ấn bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Không có nó, người đọc khó phân biệt tác phẩm của nhà văn người Tày, khác nhà văn người Kinh ở điểm nào.

Cái đó, phần lớn nó lại nằm trong “túi khôn” sách cổ slư nam. Ngày nay, có khá nhiều nhà thơ nhà văn người Tày đã cố công sưu tầm, nghiên cứu, phân tích… biên soạn và dịch ra tiếng Việt. Nó đã được in thành sách. Nhưng vẫn chưa thể nào đáp ứng trước yêu cầu ngày càng cao của người đọc. Nhất là trong giới nghiên cứu và sáng tác. Những nhà văn nhà thơ biết chữ nôm Tày nay đã thưa thớt, lại là những người lớn tuổi. Nếu không nhanh chóng mở lớp bồi dưỡng, đào tạo, sẽ đẻ ra một khoảng trống kinh khủng về chữ nôm Tày nói riêng và chữ nôm các dân tộc khác. Kể cả người Việt.

Chúng ta đã có rất nhiều dự án. Dự án nào cũng cần thiết. Chi hàng tỷ hàng trăm hàng chục. Theo tôi là rất nên làm. Vì sự giữ gìn, trường tồn và phát triển của văn hóa dân tộc. Đặc biệt với slư nam nên quan tâm đầu tư ngay. Nếu để chậm trễ, đến khi “mặt trời khuất núi” chúng ta sẽ vô cùng ân hận.

Hiên nay, trong hàng ngũ các nhà văn các dân tộc thiểu số, tôi được biết, còn vài cụ có thể đảm đương công việc truyền thụ chữ nôm Tày. Ví dụ nhà văn Hoàng Triều Ân, hiện đang sinh sống ở Cao Bằng. Tiến sỹ Cung Khắc Lược ở Hà Nội…Đấy là những viên ngọc sáng nay còn sót lại.

Đây là lời khẩn cầu, hơn là một bài viết.

Advertisements