Hà Nội diện mạo và di sản kiến trúc

KTS Christian Pédélahore De Loddis

KTS Christian Pédélahore De Loddis giảng dạy tại Trường Kiến trúc Paris La Villette và làm việc ở Viện phát triển IPRAUS, được giải thưởng kiến trúc Villa Médicls năm 1992, Ch.Pédélahore coi Việt Nam là quê hương thứ hai từ 1979, nơi anh đã sống và làm việc trong hàng chục năm trời.
Đã từng nghiên cứu ở Hà Nội (1980 – 1983). KTS của Chính phủ Pháp ở Hà Nội (1984 – 1988), chuyên gia quốc tế (1989 – 1991), Giám đốc hãng kiến trúc AXE SUD ở Thành phố Hồ Chí Minh (1992 – 1997), tổ chức những cuộc điều tra thực địa ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong chương trình đào tạo “Thủ đô các nước châu Á Thái Bình Dương” (1997 – 2001), phụ trách chương trình triển lãm “Hà Nội, các chu kỳ biến thiên” ở Paris và sẽ tiến hành ở Việt Nam (2001 – 2002).
Từ 1980 là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về kiến trúc Việt Nam, kiến trúc thuộc địa ở Đông Dương, phát triển hiện đại của thành phố châu Á, trao đổi văn hóa Đông Tây và thách thức của kiến trúc hiện đại. Ông còn là tác giả của 20 công trình xây dựng ở Việt Nam, trong đó có một chục công trình phục hồi các kiến trúc thuộc địa ở Hà Nội và Sài Gòn. Bằng những công trình của mình, ông đấu tranh cho một nền kiến trúc giản dị, kín đáo, bảo vệ môi trường, bền vững, nhân văn và nhạy cảm. Từ 20 năm nay, ông thực hiện việc ứng dụng thủ công và thực nghiệm, gắn với việc đánh giá lại nguyên vật liệu và kiến thức dân gian trong xây dựng, làm sống lại những di tích và những nền văn hóa.

* KTS Christian Pédélahore De Loddis và KTS Đoàn Đức Thành cuối thập niên 1980 tại Hà Nội.

Ít có nơi nào trên thế giới phải trải qua biết bao hy sinh lâu dài để được thừa nhận bản sắc của mình như ở Việt Nam. Lúc đầu đó là bản sắc tinh thần, chỉ sau khi chiến tranh kết thúc và đặc biệt từ khi được tự do hoá với công cuộc đổi mới năm 1986, thì dần dần, những lời nói về bản sắc đó mới được mở rộng từ phạm vi ý thức hệ đến lịch sử văn hoá và xã hội và đến những biểu hiện tôn tạo, đô thị và kiến trúc, trong một quá trình tái phát hiện và đánh giá lại, mỗi ngày một rộng rãi.

Hà Nội là một thành phố do nhiều bộ phận cấu thành trong quá trình lịch sử hàng ngàn năm, từ nhiều mảng của thành phố ghép lại với nhau để tạo nên những khu phố mang bản sắc riêng biệt của di sản hiện nay. Dù là khu Nội thành (thuộc Kinh thành cũ), khu ''Ba sáu phố phường'' (khu Phố thị cũ), khu Thuộc địa (theo sơ đồ hình ô cờ), khu lai tạp của những năm 30 (nửa biệt thự – nửa căn hộ), thậm chí vùng vành đai. Khu tập thể của những năm 60 và 80 (được cư dân biến đổi thành những làng mọc theo chiều cao, và đến ngày nào đó sẽ trở thành di sản cần bảo vệ), mỗi một bộ phận đó đều mang theo một chứng tích vật thể và một ký ức văn hoá của một giai đoạn phát triển lịch sử trong sự phát triển đô thị của Hà Nội.

Hà Nội là một thành phố sông nước, nép mình bên khúc uốn của sông Hồng, mà cấu trúc vật thể lúc khởi thuỷ – và ngày nay vẫn giữ một phần lớn – là một hệ thống dày đặc những ao hồ có hình dáng và diện tích cùng chế độ nước rất đa dạng. Đấy là những hồ, ao, đầm, mương, đê, đến nay vẫn tạo nên kết cấu di sản ẩn tàng của thành phố này và quy định bản sắc sâu xa và biểu trưng của nó.

Cần phải nghiên cứu, phân loại và bảo tồn những cấu trúc và những khu phố đó, khi thành phố ngày nay đang ở trong bối cảnh tăng trưởng dân số và đô thị hoá nhanh chóng, sau mộtthời kỳ ngưng đọng do chiến tranh (từ 1940 đến 1975), tiếp đến mộtthời kỳ đóng cửa (từ 1976 đến 1986), đã tiếp nhận trong mười năm gần đây hơn 100.000 cư dân mới mỗi năm

Khu phố buôn bán – thị

Các khu phố trung tâm gọi là “Ba sáu phố phường”, từ đầu những năm 90 đã được khoảng mười hai nhóm nghiên cứu nước ngoài[1] đến tăng cường cho công trình nghiên cứu do các nhóm Việt Nam thực hiện, cụ thể là trong lĩnh vực phương pháp và quy mô xử lý.
* Phố buôn bán Việt Nam xây dựng thời Pháp thuộc ở phố Nguyễn Thái Học, Hà Nội.

Thật vậy, trong khu vực này, nhóm ''nhà hình ống'' còn sót lại là đối tượng khảo sát xác đáng và được bảo tồn không phải chỉ ngôi nhà mà cả những phương thức cư trú và cách xử lý xã hội trong không gian. Cộng thêm vào đấy, theo một phương thức kinh điển hơn, là các phương pháp thống kê loại hình kiến trúc, xây dựng và phong cách, cùng với việc đạc họa những hình khối, hình cắt ngang và tuyến của mặt tiền trông ra đường.

Mối quan tâm quốc tế đối với khu phố này – một trong những khu vực cuối cùng của châu Á còn giữ được sự cố kết và dấu tích lịch sử trong sự phát triển – đã cho phép đi đến việc chính quyền thừa nhận một khu vực bảo tồn riêng biệt, song song với việc thành lập một cơ quan bảo vệ di sản trong toà Thị chính. Ngoài ra nó còn cho phép tiến hành từ năm 1998 việc trùng tu một ngôi nhà cổ dưới sự tài trợ của thành phố Toulouse (Pháp). Mặt khác Thành phố còn bảo đảm bằng vốn của mình, việc trùng tu, thậm chí xây lại nhiều công trình thờ tự, do các phường thủ công xưa xây dựng lên trong khu phố này.

Ngoài ra còn đang thảo luận các nguyên tắc và phương thức thiết lập một quỹ tài chính nhằm khuyến khích việc trùng tu nhà của tư nhân, mà ngày càng có nhiều người muốn thực hiện các công trình trong khuôn khổ bảo vệ di sản – vì những lý do văn hoá hay và kinh tế – nhưng chỉ có thể thực hiện được trong khuôn khổ một sự đồng – tài trợ quốc tế.

Tuy nhiên đối với Hà Nội, cần phải đăng ký về mặt pháp lý một qui tắc riêng bao gồm Giấy phép phá nhà, Giấy phép công trình và Giấy phép xây dựng, kèm theo một quy định trách nhiệm tối thiểu và thực tế nhằm đảm bảo việc kiểm tra, cụ thể là mật độ dân số, tôn trọng cảnh quan liên tục sẵn có, và ngăn cấm việc cơi nới và xây tường đua mái vẩy.

Khu phố thuộc địa

Bao gồm di sản thời thuộc địa, đây là một tài sản đặc biệt của Hà Nội, với tư cách là thủ phủ của Đông Dương dưới thời kỳ đô hộ Pháp và do việc xây dựng đặc biệt của thành phố trong vòng 30 năm.
* Phố Tràng Tiền Hà Nội đầu thế kỷ XX.

Nơi đây đã có đại diện của nhiều phong cách kiến trúc Tân-Cổ điển, phong cách thực dụng nhiệt đới đầu thuộc địa, kiến trúc Tân-Paris với mái nhà kiểu Mansart, phong cách Địa phương – mới (với đại diện của kiến trúc xứ Basques, xứ Normand và Aquitaine), nghệ thuật déco, chủ nghĩa hiện đại những năm 30, cùng với những ví dụ lớn của Phong cách Đông Dương – xu hướng do Ernest Hébrard sáng lập từ những năm 20 – Phong cách tổng hợp Đông -Tây, kiến trúc tinh tế và khoa học, cũng như những ví dụ đầu tiên của trào lưu hiện đại Á châu (với Tokyo và Thượng Hải) do những KTS Việt Nam sáng lập, những người đầu tiên được đào tạo – cũng trong những năm 20 – tại Trường Mỹ thuật Đông Dương nổi tiếng.

Vê những công trình của thời kỳ này, những công trình nhận dạng và tìm hiểu đã được các GS kiến trúc Đặng Thái Hoàng, Tôn Đại, Trần Hùng, Nguyễn Quốc Thông và bản thân tôi, mở đầu tại Việt Nam vào đầu những năm 80 và phát triển trong những năm 90 ở Pháp, ở Mỹ và ở Nhật Bản, Úc, do sáng kiến của UNESCO.

Bị đánh giá sai và bị coi là nguy hiểm về ý thức hệ sau ngày độc lập, kiến trúc thuộc địa đã được tiếp nhận lại về mặt văn hoá dưới ba hiệu quả đồng qui: được các nhà chuyên môn thừa nhận giá trị xây dựng và không gian, thừa nhận tiềm năng kinh tế và vị trí trung tâm trong hoạt động quốc tế của thủ đô (giao dịch bất động sản, du lịch, hình ảnh có giá trị của hiện đại trong lịch sử) và một phần là thực tế Việt Nam hoá (mà không phá huỷ) đã được đẩy mạnh trong dân cư một phong trào tiếp nhận và đánh giá cao về hình thể và không gian.

Diễn biến đó được thể hiện một cách chính thức bằng sự đánh giá lại về mặt khoa học đối với di sản thời thuộc địa do Hội Kiến trúc sư Việt Nam, do Tạp chí Kiến trúc và với việc thành lập Trung tâm nghiên cứu kiến trúc, dưới sự chỉ đạo của TS Nguyễn Bá Đang đã tiến hành từ năm 1993 việc nhận dạng và tổng kiểm kê những kiến trúc đặc sắc.

Những hoạt động đó được tiếp tục năm 1995 bằng việc thiết lập một khu vực bảo tồn đầu tiên, có ý nghĩa chiến lược và biểu trưng, quanh hồ Hoàn Kiếm, trên cơ sở một dự án chi tiết do Viện Qui hoạch Đô thị thuộc Bộ Xây dựng thiết lập, và một chương trình phát triển có kiểm soát các khu phố thời thuộc địa (quận Hai Bà Trưng) do Văn phòng kiến trúc sư trường Thành phố xây dựng với sự trợ giúp của Úc.
* Đường Bờ Hồ, Hà Nội.

Mang tính cách đạc trưng hơn, ít mang tính lý thuyết và tổng quát hơn, là một sự tiếp cận thực tế, biểu hiện tính chất thực dụng của người Việt Nam, đã được Sở Địa chính và Nhà đất thành phố tiến hành song song từ năm 1993 đến 1996. Do nhu cầu rất lớn của nước ngoài trong việc thiết lập văn phòng và nhà ở tiện nghi cao, kế hoạch này nhằm khai thác một cách tinh vi tiềm năng kinh tế sẵn có của khoảng một trăm biệt thự thời thuộc địa, qua trung gian điều chỉnh lại việc cư trú do các công ty liên doanh kiểm soát. Dự án lớn này, cuộc thử nghiệm này, đáng tiếc là đã được đưa ra quá sớm, đã vấp phải nhiều trở ngại (về xã hội, kỹ thuật, tài chính, pháp lý), nhưng ngược lại đã có ích trong việc làm chín muồi sau này những chính sách bảo vệ di sản thực tế hơn và cụ thể hơn.

Ngoài ra, những biện pháp có ý nghĩa quan trọng hơn được thực thi từ năm 1994, nhằm phục hồi những kiến trúc thời thuộc địa tiêu biểu bắt đầu từ một công trình biểu trưng nhất, nhìn ra trục đường chính của thành phố (phố Tràng Tiền, xưa là Paul Bert): Nhà hát Thành phố. Đó là cái đầu tiên trong một loạt ''những công trình lớn'' của đô thị, được cấp cao nhất cua Chính phủ quyết định, sự kiện này chính thức đánh dấu năm 1995, vừa là sự xuất hiện của di sản kiến trúc trong các văn bản chính trị và sự xác nhận lại một cách biểụ trưng hào quang lịch sử của những công trình lớn được xây dựng từ thời thuộc địa. Những công cuộc trùng tu khác hiện đang được nghiên cứu, ví như Nhà thờ lớn Saint Joseph và một biểu trưng khác của thành phố là cầu Doumer (tức cầu Long Biên) bắc qua sông Hồng.

Bằng chứng của sự quay lại đó là nhà chức trách thành phố hiện nay đã nghĩ đến việc ''phủ lại'' những toà nhà công cộng được dựng lên trong những năm 70, bắt đầu từ Toà Thị chính Hà Nội đã được mở rộng đồ sộ. Ý đồ quá đáng đó trong việc thống nhất các phong cách, là đặc biệt nguy hiểm trong chừng mực mà một mặt tiền tân – thuộc địa và một kiến trúc tô đắp tỉa tót sẽ khiến cho thành phố lịch sử có thể trở nên không nhận diện được nữa. Bằng chứng là khách sạn Hilton, nằm ở phía nam Nhà hát thành phố, mà ý đồ chỉ dừng lại ở chỗ tôn trọng những hình dáng qui củ và bảo đảm chiều cao hợp lý, nhưng bố cục chỉ là sự phá vỡ thực thể của kiến trúc thuộc địa lịch sử.

(Bài theo Tạp chí Xưa & Nay)

Advertisements