Nguyễn An – Kiến trúc sư đầu tiên của Việt Nam

Ai đã qua Bắc Kinh, Thủ đô nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, thì không thể không dành thời gian vào thăm Cố Cung – Khu cung điện Nhà Minh xây dựng từ thế kỷ XV. Vào nơi đây, không ai là không sững sờ trước một cung điện vĩ đại, tráng lệ nguy nga.
Theo đường trục hướng Nam – Bắc qua cửa chính Thiên An Môn, ngoài ra còn có 3 cửa nữa là Đoan Môn, Ngọ Môn và cửa Thái Hoà. Rồi lên các điện: Thái Hoà, Trung Hoà, Bảo Hoà. Qua cửa Càn Thanh đến cung Càn Thanh, điện Giao Thái, cung Khôn Ninh, vườn Thượng Uyển, cửa Thần Vũ.. Hai bên đường trục là Đông Cung và Tây Cung toạ lạc chếch về hướng Bắc. Xung quanh là tường cao dày khép kín và có hào nước sâu bao bọc khiến cho cung điện lâu đài càng trở nên thâm nghiêm huyền bí.
* Cố Cung, Bắc Kinh năm 2003. Ảnh: Đoàn Đức Thành

Vật đổi sao dời. Hai mươi năm trước đây đến thăm Bắc Kinh, ta còn được thấy bức tường bao quanh kinh thành Bắc Kinh xây đắp theo hình vuông: cạnh Đông – Tây dài khoảng 6 km, cạnh Bắc – Nam ngắn hơn, khoảng 4.5 km, với 9 cửa: phía Nam 3 cửa là Chính Dương, Sùng Văn, Tuyên Vũ; phía Đông 2 cửa là Triêu Dương, Đông Trực; phía Tây 2 cửa là Phu Thành, Tây Trực và 2 cửa phía Bắc là An Định, Đức Thắng. Hiện nay, trên đường Vòng Hai của thành phố Bắc Kinh vẫn còn thấy tên các cửa này, trừ cửa Chính Dương vẫn còn ở phía trước Quảng trường Thiên An Môn.
Câu hỏi đặt ra là: Ai là Tổng công trình sư thiết kế xây dựng Cung điện và Kinh thành Bắc Kinh?
Chúng ta có thể nhờ vào sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn để tìm hiểu vấn đề này. Họ Lê đã viết rất rõ như sau:
“Nguyễn An thờ 5 triều vua: Thái Tông, Nhân Tông, Tuyên Tông, Anh Tông và Cảnh Tông, làm quan đến chức Thái Giám. An là người giản dị, khắc khổ, cứng rắn, liêm khiết, giỏi về mưu lược tính toán, rất sở trường về công việc xây dựng. Những việc tu tạo thành hào Bắc Kinh, 9 cửa, 2 cung, 3 điện, 5 phủ, công đường, nha môn, 6 bộ và các trường sở, nhà trạm, An đều thân hành sắp đặt, tỏ ra rất có công lao; các ty tào trong Bộ Công chỉ theo kế hoạch của An đã thành lập mà thôi. Bình sinh vua ban cho thứ gì đều lấy ở kho công, sau đó An lại đem nộp vào kho công không sót một ly nào cả. Việc này thấy chép trong Hoàng Minh thông kỷ” ("Lê Quý Đôn toàn tập", Chương II, trang 256).
Ngay người Trung Quốc cũng đã nhắc nhở đến Nguyễn An. Căn cứu vào sử liệu Trung Quốc, nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc là Trương Tú Dân đã công bố bài viết với đầu đề “Thị dân Bắc Kinh nên kỷ niệm Nguyễn An, người An Nam, Thái giám nhà Minh, Tổng công trình sư tạo dựng lầu thành Bắc Kinh thế kỷ XV”, đăng tải trên tời Ích Thế Báo số ra ngày 11-11-1947. Xin dẫn lại như sau: ”Nguyễn An – A Lưu đến Trung Quốc vào năm Vĩnh Lạc [1] thứ 5 (1407), là một trong số trẻ em trai mỹ tú [2] của Giao Chỉ, do Trương Phụ đưa về Nam Kinh để hoạn sau khi bình Giao Nam [3], Năm Vĩnh Lạc thứ 14 (1416), theo lệ của Thành Tổ (1403-1424), tạo dựng thành trì, cung điện Bắc Kinh cùng phủ thự trăm ty [4]. Đến tháng 12 năm thứ 18 (1420) cung điện, đền miếu hoàn thành. Quy chế tuy phỏng theo Nam Kinh [5] nhưng vượt xa về hoành tráng và vẻ đẹp. Một thanh niên trạc hai, ba mươi tuổi được lệnh tạo dựng công trình to lớn như vậy mà sơ bộ hoàn thành chỉ trong thời gian ngắn ngủi 4-5 năm, có thể thấy rõ lòng tận tâm với chức vụ và sức sáng tạo của con người đó to lớn biết chừng nào! Nếu là ngày nay, thật không biết cần phải đến mấy nghìn công trình sư thiết kế, vẽ đồ án cho công trình này, còn An thì một mình vẫn dư sức làm việc đó. Điều ấy chứng tỏ An có tài bẩm sinh về suy xét, tính toán, há chẳng phải là thiên tài trong lịch sử kiến trúc sao! Đến nỗi Bộ Công thời đó cũng chỉ như xưởng xây dựng bao thầu, các quan Bộ Công như những đốc công trong coi công việc, mọi quy hoạch đều làm theo lệnh của An mà thôi”.
Anh Tông (1436-1450) lên ngôi, “Thiên hạ thái bình, hoà cốc phong đăng, nhà đủ người đông” thế là lại khởi công lớn về thổ mộc, thực hiện chí của Thành Tổ chưa thành. Công việc đầu tiên là xây dựng Lầu thành 9 cửa. Khi lệnh ban ra, Thị lang Bộ Công Sái Tín cho rằng, khối lượng công việc lớn, không đủ 18 vạn người không xong, vua liền sai Nguyễn An đảm nhận công việc. Khởi công xây dựng năm Chính Thống (niên hiệu Anh Tông) thứ 2 (1437), tháng Tư năm thứ 4 (1439) xây dựng xong Lầu chính, Lầu nguyệt, thành, hào, cầu, đập 9 cửa: Chính Dương, Sùng Văn, Tuyên Vũ, Triêu Dương, Phu Thành, Đông Trực, Tây Trực, An Định và Đức Thắng. Đó là tiền thân của Lầu Thành 9 cửa nội thành Bắc Bình ngày nay. Công trình 18 vạn người mà An chỉ dùng có 1 vạn (có thuyết nói mấy vạn) binh sĩ được ưu đãi thì hoàn thành.
Ba điện xây dựng xong năm Vĩnh Lạc thứ 18 (1420). Chưa đầy nửa năm bị hỏa hoạn. Tháng 3 năm Chính Thống thứ 5 (1440) mới sai Nguyễn An xây dựng lại. Lực lượng xây dựng 7 vạn người gồm thợ và quân quan đang luyện tập, năm thứ 6 (1441) thì 2 cung Càn Thanh, Khôn Ninh, 3 điện Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân xây xong, tức là tiền thân của 3 điện lớn Thái Hoà, Trung Hoà và Bảo Hoà ngày nay. Ba điện này, tuy qua sự trùng tu và đổi tên vào các đời Gia Tĩnh, Thiên Khải, cùng đời Thanh (chú thích của Tác giả: Đời Gia Tĩnh đổi là Hoàng Cực, Trung Cực, Kiến Cực. Đời Thanh đổi là Thái Hoà, Trung Hoà và Bảo Hoà) nhưng nền điện Thái Hoà cao 2 trượng (6m), điện cao 11 trượng (33m), rộng 11 gian, sâu 5 gian, mái 2 tầng chồng diêm, nóc toả 4 góc đều theo quy củ cũ của đời Chính Thống. Việc xong, An được thưởng 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 1 vạn quan tiền. Vua ngự Chính điện nhận chúc mừng và đại xá”.
“Năm Anh Tông thứ 10 (1445), An lại được lệnh tu sửa tường thành kinh sư. Phía trong tường thành vốn đắp đất, hễ mưa là sụt lở, đến đây đổi xây tường gạch, tức nội thành Bắc Bình ngày nay. Như vậy, việc đời Minh xây dựng Bắc Kinh, đời Vĩnh Lạc là thời kỳ mở mang, quy chế còn nhiều khuyết lược, đến đời Chính Thống (Anh Tông) mới là thời kỳ hoàn chỉnh. Trước sau chủ trì công việc từ đầu đến cuối đều là Nguyễn An, người đã cống hiến trọn đời cho Bắc Kinh".

Bài Thị dân Bắc Kinh, tác giả Trương Tú Dân, đăng trên Ích Thế Báo, số ra ngày 11 tháng 11 năm Trung hoa Dân quốc thứ 36 (1947) có viết: “Hoạn quan là chế độ tội ác của thời đại phong kiến chuyên chế nước ta. Từ xưa đến nay, người tốt trong hoạn quan thì trăm ngàn người không được lấy một. Còn An thìn hết lòng vì việc công, thanh bạch. liêm khiết, khắc khổ, khi lâm chung không còn lấy một nén vàng ở trong túi, là người cao thượng, chỉ để lại công đầu ở Bắc Bắc Kinh. Nguyễn An cùng thời với Tam Bảo thái giám Trịnh Hoà ba lần sang Tây Dương (Ấn Độ dương), đều là những người kiệt xuất trong hoạn quan, có công với quốc gia không thể phai mờ. Ngày nay, tên Tam Bảo thái giám thì đàn bà trẻ con đều tỏ tường, còn tên của nhà đại kiến trúc Nguyễn An – A Lưu thì ngay học giả, chuyên gia ít ai hay biết. Thật bất hạnh thay, tôi nghĩ, với An không chỉ riêng giới công trình sư đáng ngưỡng mộ, mà 1 triệu 60 vạn thị dân Bắc Bình cũng nên uống nước nhớ nguyền, kỷ niệm, chớ quên!”
Về sự tích Nguyễn An thì chính sử Trung Quốc đã viết như sau:
“Nguyễn An còn có tên là A Lưu, người Giao Chỉ. Năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Trương Phụ bình Hồ Quý Ly ở Giao Nam, mang theo về những em trai mỹ tú đất Giao Chỉ, chọn để hoạn. Nguyễn An và Phạm Hoằng cùng Vương Cần là những người trong số đó. An có tài nghệ, giỏi mưu lược, tính toán, càng giỏi về xây dựng thổ mộc. Theo lệnh của Thành Tổ tạo dựng thành trì, triều miếu, cung điện Bắc Kinh cùng phủ thự trăm ty, ngàn cửa muôn nhà, mắt đo ý định, thân hành thiết kế, tự tay vạch vẽ. Các thợ Bộ Công chỉ việc làm theo những gì đã được định sẵn mà thôi. Năm Chính Thống thứ 2 (1437), An được lệnh xây dựng Lầu 9 thành cửa kinh sư, tháng 4 năm thứ 4 (1439) thì hoàn thành. Khi lệnh ban ra, Thị lang Bộ Công nói bóng gió rằng: “Khối lượng công việc lớn, không huy động được 18 vạn người không xong, chi phí về các thứ vật liệu phải đủ dùng”. Vua liền sai An chủ trì công việc. An lấy hơn vạn binh sĩ đang tập trung luyện tập ở kinh sư cho ngừng luyện tập để bắt tay vào công việc, cấp lương hậu, có làm có nghỉ. Mọi chi phí về vật liệu đều xuất của công, các ty không can dự, trăm họ không bị quấy nhiễu mà công việc hoàn thành. Tháng 3 năm thứ 5 (1440), An lại được lệnh xây dựng lại 3 điện, huy động 7 vạn thợ, quân quan đang luyện tập khởi công xây dựng. Tháng 10 năm thứ 6 (1441) 3 điện Phụng Thiên, Hoa Cái, Cẩn Thân, 2 cung Càn Thanh, Khôn Ninh hoàn thành. Nhà vua thưởng cho An 50 lạng vàng, 100 lạng bạc, 8 tấm lụa, 1 vạn quan tiền. Tường thành Bắc Kinh ban đầu bên ngoài xây gạch, bên trong đắp đất, hễ mưa là sụt. Tháng 10 năm thứ 10 (1445) nhà vua lại sai An đốc công xây dựng. An còn trị thuỷ các sông Tắc Dương, Thôn Dịch, thân hành đào đắp, công tích rất lớn. Năm thứ 14 (1449), An được lệnh đi tuần tra đường thuỷ kênh đào từ Thông Châu [6] đến Nam Kinh. Sông Trương Thu ở Sơn Đông vỡ, tu sửa mãi không xong, đời Cảnh Thái (1450-1456), An lại được lệnh đến đó trị thuỷ, rồi mất ở dọc đường. An là người hết lòng vì việc công, cần mẫn tận tuỵ, thanh bạch liêm khiết, bình sinh những thứ được ban thưởng cùng của riêng đều nộp lại vào kho công" . (Sử liệu “Anh Tông Chính Thống thực lục” dẫn trong sách Trung – Việt quan hệ Sử luận Văn tập của Trương Tú Dân, 1991; trang 52,53).
Những điều trên đây là sự thật lịch sử, từng được ghi chép tại sử sách Trung Quốc và được nhà bác học Việt Nam Lê Quý Đôn viết trong Kiến Văn tiểu lục từ thế kỷ XVIII, sau đó lại được nhà sử học Trung Quốc Trương Tú Dân tôn vinh trên diễn đàn công luận Trung Quốc từ năm 1947.
—————————————————–
[1]. Vĩnh Lạc: Niên hiệu vua Thái Tông nhà Minh, còn có hiệu là vua Thành Tổ (1403-1424)
[2]. Mỹ tú: Đẹp trai và thông minh
[3]. Chỉ cuộc xâm lược nước ta của quân Minh năm 1406.
[4]. Trăm ty chỉ huy chung các cơ quan chuyên môn trong triều đình nhà Minh.
[5]. Thành Tổ sau khi lên ngôi đổi Kim Lăng ra Nam Kinh, Yên Kinh (Tức kinh đô nhà Nguyên) sau là Bắc Kinh.
[6]. Sông đào từ đời nhà Tuỳ (581-618), nối hai miền Nam – Bẵc Trung Quốc, Thông Châu nay gọi là Thông Huyện, cách Bắc Kinh chừng 30km.

Advertisements