Y PHƯƠNG

Tháng giêng
tháng giêng
một vòng dao quắm (VI)

Tết cốm

Mới vào đầu tháng tám, mà đàn chim ngói từ bản Phja Hoong bay qua đầm Khưa Ngau đã chíu chít kéo về. Báo hiệu tết cốm mới bắt đầu rồi. Không biết ở những vùng khác người ta làm cốm như thế nào. Ở người dân quê tôi rủ nhau làm cốm đông vui như tết. Vì thế mọi người gọi tết cốm.

Tết cốm thường diễn ra vào đêm rằm tháng tám âm lịch. Đó là đêm trăng tròn vành vạnh và sáng rõ nhất trong năm. Ánh sáng trong suốt như thủy tinh. Bầu trời không một vết xước, không một gợn mây. Ta có cảm giác như hít được cả bầu trời, núi cao và đồng ruộng vào trong người. Thiên nhiên theo nhau qua đường hô hấp, chui tọt vào trong ngực. Rồi ta nhắm mắt bịt tai mươi lăm phút. Để thiên nhiên có đủ thời gian hòa hợp và tan trong máu. Ta từ từ nhả hơi ra, trả thiên nhiên về chốn cũ. Con người chỉ giữ lại tinh hoa. Đó là cốm. …

Nhìn ra cánh đồng lúa, ruộng nhà ai cũng đang vào kỳ lúa nếp non. Hạt lúa như thiếu nữ mười lăm mười sáu. Lúa chớm nhú nhí làm mẩy làm no căng tròn từng hạt. Đợi cho ba sương nữa qua đi, các mẹ các chị dùng nhắt hái từng bông mang về. Họ chọn những bông mới chớm vàng, rõ hạt. Nó ngả từ xanh sang màu vàng chanh. Đấy mới phải lúa nếp non đang tuổi cốm. Cái màu vàng như bóng chiều. Bóng chiều hắt nắng lên bờ núi mờ xa. Gợi cho người nỗi nhớ nhà xao xác.

Lúa nếp non tãi đều trên sàn trăng. Gọi là sàn trăng bởi đây chính là nơi đêm đêm người Tày mời đón trăng mọc. Còn ban ngaỳ người ta phơi ngô thóc. Hết ngô thóc thì phơi chăn bông. Cuộn chăn bông vào người ta phơi vải nhuộm chàm hoặc hong tơ ướt. Sàn trăng bận bịu như người nuôi con mọn. Chả mấy khi được nhàn rỗi. Đêm nay trăng lên. Trăng chiếu sáng xanh cả vườn vầu rừng trúc. Cả cánh đồng lúa. Cả tiếng mõ trâu lóoc tóoc trong chuồng. Cả ngọn đèn dầu lạc. Cả chòm râu ông gìa ngồi im phăng phắc. Trăng tưới lên muôn người muôn vật, làm cho nỗi buồn bớt lạnh.

Lúc này nhà nào cũng bê mâm cơm ra sàn. Họ ngồi ăn chung dưới ánh trăng. Bát đũa kêu leng keng. Tiếng cười tròn đùng đục. Đùng đục vì chưa nuốt kịp miếng cơm, đã phải bục ra tiếng cười. Câu chuyện lọt qua phên vách đến tai mọi người nghe. Một nàng dâu lần đầu về nhà chồng. Cả nhà dùng cơm tối vừa xong. Nàng dâu xăng xái mang bát đũa đi rửa. Sợ cô con dâu lần đầu chưa quen, bố chồng bèn lên tiếng: “ Nhớ rửa luôn cả trôn nghe con!”. “Dạ!”. Một lát sau, bố chồng nghe nàng dâu tụt quần vỗ bì bạch.

Thế là cười ồ lên. Niềm vui lênh láng ướt trên lá cỏ. Nở nang mặt người. Không có tiếng cười, dân tôi không chịu được. Một ngày phải được cười ba bốn bữa. Cười lên cho cơm rau êm trong bụng. Cười cho máu chảy ngược lên não. Tiếng cười giúp cho các cơ quan thu nạp và chuyển hóa thức ăn thành năng lượng. Người làng tôi cười nới lỏng cơ thể. Cười thả phanh, không bị ràng buộc vào bất cứ chuẩn mực khắt khe nào. Nếu có điều kiện, hãy cười phá lên. Cười như tiếng rít thuốc lào. Chỉ có tiếng cười mới mong giúp cho con người sống hồn nhiên hơn và yêu đời hơn.

Có lẽ người Tày chúng tôi là dân tộc yêu tiếng cười nhất nhì trên thế giới. Có người hồn nhiên cho rằng tết cốm là tết cười.

Trăng tãi ra trên sàn, người già ngồi góp chuyện. Các mẹ các chị người cầm bát người cầm thìa tuốt từng bông lúa. Tiếng tuốt lúa nghe loong roong râm ran từ đầu làng đến cuối làng. Người ta bảo cứ đêm nào trăng sáng thì chó sủa. Chó sủa trăng đâu phải chuyện lạ. Từ ngàn xưa trăng xuống trộm người ngoan. Vì vậy, thế gian mất dần người đẹp. Loài người nuôi chó để sủa trăng cho bõ tức. Nhưng đêm nay chúng chỉ nằm đập muỗi, giỏng đôi tai lên nghe tiếng tay người tuốt lúa. Hạt lúa bay rào rào rơi trên nong. Nong đầy lúa người ta trút vào dậu. Cứ một lớp trăng là một lớp lúa. Đến cuối đêm, sàn nứa chỉ còn trăng.

Bây giờ là lúc người đốt lò rang lúa. Lửa liu riu vừa đủ ấm dần đều. Đừng để lúa chín nhanh. Chín nhanh là làm lúa vỡ. Lúa bết vào nhau làm thành bánh. Nhưng bánh không ra bánh. Cốm không ra cốm. Thóc chẳng ra thóc. Khóc dở mếu dở, mang ra đổ ngay cho gà vịt ăn. Bao nhiêu công sức không tiếc. Chỉ tiếc mất toi một đêm trăng đẹp. Vì thế các chị các mẹ dành lấy công việc rang cốm. Đàn bà con gái bao giờ cũng cẩn thận hơn cánh đàn ông con trai.

Cốm chín vừa tới, họ liền trút vào cối. Ba bốn thanh niên lực lưỡng vung chày giã cốm. Họ vừa làm vừa hò nhau rổn rảng cười. Đây là dịp tốt nhất để các chàng khoe sức. Vồng ngực cong lên như cánh cung. Hai bắp tay cuồn cuộn những múi thịt. Đúng là sức trẻ. Bốn chàng trai họp nhau lại, thành một ngọn lửa đang phừng phừng cháy. Có phải vì da người mướt nên ánh trăng trượt từ vai xuống chân. Có phải ánh trăng trơn nên đôi lúc chày lỗi nhịp.
Tôi nghe thấy có mùi củi lửa. Mùi mồ hôi nách. Mùi cốm. Mùi sương. Tạo thành đêm tết cốm độc đáo của người Tày

Trám cũng mang thai

Bữa cơm chiều nay có trám xanh kho thịt. Đây là món ăn đặc biệt ngon của người Tày mình. Nhớ ngày còn bé, mỗi khi được ăn trám xanh kho cá bống hay om xương sườn, là hết veo nồi cơm khẩu lùm phuô. Đó là cơm nấu từ gạo Quên chồng. Đang giờ, ngửi thấy mùi vị trám bay ra, tôi thèm ứa nước miếng. À mà con dâu tôi chưa từng được nếm thử lần nào. Nên mọi người cố nín cơn thèm, ngồi chờ nó đi làm về muộn.

Phải nói rằng, nồi trám kho chiều nay, trông ngon như hồi còn ở nhà. Có bao nhiêu tinh chất gió sương ở miền núi, được bà xã dồn cả vào đây. Chỉ tiếc trám kho trên bếp ga, nên không có mùi củi lửa. Hơi khói bếp cay xè đã ngấm vào mũi miệng da thịt tôi. Vì thế tôi nhớ rất lâu cái cảm giác quê nhà yêu dấu qua mùi khói, tuy không mấy dễ chịu khi phải hít vào thở ra. Và đặc biệt là mùi bồ hóng. Nó vừa khai vừa khét. Hai cái đó cộng lại mới làm nên bữa trám xanh Cao Bằng.

Bồ hóng do bếp củi đẻ ra. Chúng bâu đen như ruồi. Chúng nằm la liệt lên dần, sàng, cuôi, dậu, hoặc ngủ quên trên nắp hũ dưa chua. Người làng tôi nói rằng, hễ ở đâu nghe thấy mùi bồ hóng quyện dưa chua, ở đấy có người đang làm nên ăn ra. No ấm giàu có không giấu mãi được. No ấm tự phát ra cái mùi khăm khẳm. Đó là kinh nghiệm từ người già truyền lại.

Mấy lần tôi dục nó gắp ăn thử. Con tôi chỉ cười. Chị gái chồng gắp miếng trám kho vàng ươm cho vào bát. Nghĩ bụng chắc con tôi phải thốt lên trời ơi trám sao mà ngon thế. Ngon đến mức cấu không biết đau. Nhưng. Nó nhìn một lúc rồi mới lúng búng nói. Con ăn thứ này không quen. Thôi chết. Đúng quá rồi! Có thế mà không nghĩ ra. Con dâu tôi là người đồng bằng. Nó chỉ quen ăn cá tôm cua ốc ếch và các loại mắm. Nói chung, những món ăn được chế biến từ hải sản, rất giàu hàm lượng đạm, mà ít chất béo. Còn chúng tôi không quen dùng những cá tôm ướp tươi sống thành mắn. Chỉ ngửi thấy mùi là buồn nôn rồi. Con tôi cũng vậy, nó đâu biết ăn những sản vật từ rừng.

Vợ tôi thủng thẳng ngồi nhớ lại. Hồi bác Vương Anh mang nem từ Thanh Hóa lên biếu vợ chồng mình. Bác ấy bảo rằng đây là nem thửa riêng dùng để làm quà biếu, đảm bảo hợp vệ sinh. Các bạn cứ dùng thử đi, không phải sợ gì cả.

Thế mà ăn xong, chừng mươi phút, vợ chồng tôi và cả chú mèo Giôcđanh cùng ôm bụng nhăn nhó tranh nhau vào toilet.

Người đồng rừng không quen dùng đồ biển, lạnh bụng không chịu được. Nhưng khi nhìn thấy món quà lạ, vợ chồng tôi cũng tò mò xem nó thế nào. Nhưng ngửi qua thì sợ quá, mà tôi không dám nói. Vẫn cố làm ra vẻ rất hứng thú để cho bạn mừng. Nhiều khi nghĩ đặc sản của vùng này, mang làm quà cho người vùng khác, cho là quý hiếm, độc đáo. Coi chừng, tai vạ có ngày.

Với chúng tôi, trám xanh hay trám đen đều quý. Quý không phải vì ở Hà Nội không có bán. Trám quý và ngon là bởi nó được chưng cất từ hồn vía đất đá núi non quê nhà. Giống cây này người ta trồng cứ như mọc hoang trên núi. Trồng xong một thời gian là nó lớn, và lớn rất nhanh. Thân cây gỗ tròn cao to, trông nở nang lực lưỡng như những chàng dũng sỹ. Nhưng bên trong gỗ cây trám lại xốp rỗng, thể như hang động. Nên người dân không bao giờ chặt phá hoặc trèo lên cây hái quả.

Đến mùa cây ra hoa làm qủa, toàn thân nó phát ra mùi đực cái. Khiến cho muôn loài côn trùng xa mấy cũng tìm đến. Chúng bâu đầy lên lá lên hoa. Cứ mải mê rủ rỉ rù rì hút hương, vô tình chúng đã thụ tinh cho trám. Thế rồi trám mang thai. Trám râm ran sướng như người. Nhìn dáng cây bờ phờ mệt mỏi, bởi chúng dồn hết niềm vui xuống gốc. Trông gốc cây to như cột đình. Cành lá lặc lè, đung đưa niềm kiêu hãnh của người sắp được làm mẹ.

Từ lâu lắm ông cha chúng tôi coi trám đen là thịt trời. Quả trám đen chỉ to bằng ngón tay cái. Trông nó như cuộn chỉ màu tím than, thon nhọn ra hai đầu. Người sành ăn nhận ra ngay đâu là trám nếp trám tẻ. Đâu là trám đực trám cái.

Cùng trồng trên một dải đất, nhưng rừng có đủ âm dương, có đủ nóng lạnh, có đủ trong ngoài. Nên chúng tự chia ra chị trám nếp tôi làm trám tẻ. Thường thì trám tẻ chắc thịt và giòn hơn. Nhưng trám nếp lại ngọt bùi và nhiều nạc.

Mang trám vào nồi đun nhỏ lửa, chừng mười phút, khi nào thấy dưới đáy xoong kêu loong roong là bắc xuống. Đừng để nước nóng quá già là trám bị bở.

Trám cắt đôi bỏ hạt, mớm cho chúng một chút muối tiêu rồi đem ra hong gió. Đủ ba ngày gió với hai đêm sương, là tự nó se miệng lại. Lúc này chỉ cần đem trám lên hấp miệng nồi cơm, đã trở thành thức ăn ngon nhất trần đời.

Trám đen đem nhồi thịt hoặc rim với tóp mỡ thì thôi rồi bạn ơi. Trám sẽ hút hết mỡ, chỉ còn nghe tiếng rôm rốp giòn tan của miếng tóp trong vòm miệng. Trám với tóp mỡ đang mềm thừ ra, và từ từ trôi vào khoang cổ họng. Khoan. Bạn đừng nuốt vội. Cứ để nó thấm dần thấm dần đến từng mao mạch. Đây mới là cái sự sung sướng đang lịm dần… lịm dần…. lịm… ị…m. Như thế mới là người biết thưởng thức trám.

Ăn thức ăn của người miền núi là không thể vội. Cứ tà tà gắp. Cắn miếng trước ước lượng chỉ bằng đầu đũa, Người Tày gọi là ăn nhắm nhí. Miếng tiếp theo to bằng đầu ngón tay út. Bà cô tôi bảo như thế vừa miệng rồi. Miếng thứ ba thứ tư là vừa hết bát cơm. Xong bữa mà trám đen vẫn còn lưng lửng bát, nghĩa là nhà này có thói quen tùng tiệm. Đồng nghĩa với cái lí con người ở vùng này xem cái ăn là còn mãi mãi dài lâu.

Đây là món ăn dân giã, nhưng vô cùng độc đáo và sang trọng. Vào cữ này lên quê tôi, ăn cơm mới với trám đen, bạn quên đường về xuôi là cái chắc. Người dân quê tôi vất vả lam lũ quanh năm là vậy, nhưng đến mùa trám đen là làn da ai cũng mỏng tang bóng mướt. Hình như họ vừa được ngâm thật lâu trong bồn rượu hồng đào. Ừ mà lạ thật, con người ở xứ này chỉ trẻ đẹp lên thêm, chứ không thấy già thêm xấu đi cùng năm tháng. Một điều tưởng như rất nghịch lý, nhưng nó đang diễn ra trước mắt tôi và bạn.

Nếu bạn từng được ăn xôi xéo, xôi trứng kiến, xôi ngũ sắc, xôi lạc, xôi vò, xôi gà xé phay, xôi lạp xường, xôi Điện Biên, Xôi Lào, xôi Thái Lan…. Xôi trám đen đích thị là xôi hoàng hậu, xôi chúa tể của các loài xôi mà tôi vừa kể.

Nếp cái hoa vàng đồ chín cùng trám đen, khi hơi nó bốc lên thì chuột trong hang cũng bò ra. Kiến trong lỗ sâu cùng tìm đến. Người đang đi đường cũng dừng chân nghe ngóng, rồi cất tiếng e hèm! Thơm nứt mũi rồi đây nè! Chẳng biết có nói quá lời không, nhưng cơ quan tôi là Hội Nhà văn, đã có mấy ông nhà thơ nhao nhao đăng ký lên chơi quê tôi cho kịp mùa trám đen .

Dân tộc: Người

Ở dưới chân rừng Đông Căm nay còn lại một bãi đá. Chúng lổn nhổn đứng ngồi như đang họp chợ. Hòn nào cũng hốc hác, gầy guộc, tanh ngòm, bốc lên mùi thời gian.

Năm sáu chục năm về trước, chỗ này là nền nhà của chú Phin. Gọi là nền cho đúng cách nói ngắn gọn lịch sự, chứ thực ra nó chỉ là mấy đống đá xếp hình chân kiềng. Đây là chỗ đã từng có người sinh sống, nên cỏ cây đất đá vẫn còn đang hí hóp thở.

Gặp phải hôm nào trời nhá nhem tối sáng, lại lất phất mưa phùn, ai đi ngang qua đây cũng giật mình nhon nhót. Họ thấy có bóng áo chàm ẩm mốc, lẩn khuất cắm cúi đi ra đi vào trong bụi cây lá mỏng. Không thế, sao cây gật gù rung rinh mãi. Chắc chắn có người đang chui bên trong. Thỉnh thoảng họ còn nghe thấy tiếng ho khẹc khẹc, lẫn tiếng nhổ khạc phì. Cái tiếng ho dai và khó kéo hơi trở lại. Các bậc cao niên, khi biết lộc trời sắp cạn. Đang gắng sức chống chọi luật đời.

Hồi ấy, trong căn nhà nhỏ của chú Phin lúc nào cũng đầy ắp tiếng nói tiếng cười. Người từ Pác Rao, từ Cảnh Tiên, từ Cao Thăng, từ Thông Huề, từ Pò Tấu… đến nhờ chú xem ngày tốt giờ đẹp để khởi công đào móng, xây ngôi nhà mới. Hoặc làm một đêm giải hạn, kỳ yên, hay ma nhét đầy tháng cháu cho đứa nội.Thậm chí có người nhờ chú xem cái bụng lùm lùm của con bé tóc hung hung đuôi gà, tác giả của cái bào thai là ai? Người nào để mất trâu mất bò cũng đến nhờ chú bấm độn cườn từ mạn lục…kim mộc thủy hỏa thổ….

Chú thắp hương cầu khấn các vị đức thánh cao tăng, có nhãn thần mách bảo. Liệu thân chủ cuả tôi có tìm thấy và lấy lại gia tài được không. Phần lớn những việc như thế chỉ diễn ra trong nửa buổi sáng là có ngay kết quả. Tùy mức độ công việc nặng nhẹ đơn giản hay phức tạp, mà khách tự nguyện trả công cho chú. Có khi chỉ chục phong bánh khảo, chai rượu cao trăn pha mật gấu, năm phân vài xèn thuốc phiện.

Chú Phin tuyệt đối không đòi hỏi thù lao, và cũng chả bao giờ từ chối. Bởi theo chú, đòi hỏi là tham, từ chối là sân si. Tham sân si là ba cái đặc biệt phải tránh. Có như thế lời nói của người làm thày mới thiêng được.

Gian giữa chú dành cho việc cúng bái thờ tự, kế đó kê một bộ bàn ghế trúc tự tạo dùng để tiếp khách. Hai gian bên làm buồng ngủ. Bên phải dành cho cánh đàn ông con trai. Gian bên trái dành cho thím và cô con gái đầu. Phía dưới nhà, chú đặt ba ông đầu rau dùng để thổi cơm, nấu cám lợn. Trên gác bếp, gia đình chú phơi phóng đủ các loại lương thực thực phẩm. Mỗi thứ một dậu một cuôi. Cái nào cũng đựng đầy ngô thóc, khoai lang, khoai sọ, củ mài…. Đấy là kho lương thực tàm tạm, nhì nhằng, đủ khẩu phần cho mấy miệng ăn qua năm đoạn tháng.

Ngày trước, gia đình chú có tậu được ít ruộng thừa rẫy thẹo. Đó là những miếng đất đến chó cũng không buồn ngáp. Nhưng nhờ sự chăm chỉ làm ăn của dế mú mẹ con thím Phin, nên gia đình chú không mấy khi đứt bữa.

Tôi gọi bằng chú là theo thói phép của người làng. Chứ chẳng phải anh em họ hàng gì sất. Chú là dân ngụ cư. Dân ngụ cư họ đều tự nguyện xếp xuống hàng dưới cùng ở cái làng này.

Nghe nói chú là người gốc gác ở tận Khe Hoi, nơi giáp biên với Slình Slây, Trung Quốc. Gặp những năm đói kém lụt lội, lại trúng nạn giặc cờ vàng cờ đen, nạn thổ phỉ nổi lên cướp bóc. Không chịu nổi nữa, cả gia đình dế mú pá mé ông bà cha mẹ quyết định bỏ nhà và ruộng vườn kéo về đây xin chúa làng cho tị nạn.

Cái ngày pá mé đến đây, chú hãy còn ẵm ngửa. Mọi người trong nhà chú đều uống nước nguồi chảy ra từ mỏ Chang Nà. Đã mấy chục năm đi qua, bạc tóc hai ba đời rồi, nên ai cũng nói đặc sệt giọng Tày người làng Hiếu Lễ. Chỉ những ngày lễ tết hay đi dự cưới xin, người ta mới thấy chú thím mặc áo người Nùng. Đó là kiểu áo chàm năm thân cổ lá sen, cài cúc bên nách tay phải. Ống tay rộng và đắp lên một miếng vải khác màu. Nhưng tôi nhớ nhất những đôi hài xảo bện bằng mo tre. Đôi nào cũng vàng ươm, nhỏ nhắn xinh xinh.

Vào những ngày cuối tháng chạp, hai dế mú lọ mọ lóc cóc đến các chủ vườn xin mo tre. Chủ vườn chẳng biết dùng mo tre để làm gì. Thôi thì cho người ta dọn dẹp sạch sẽ càng tốt chứ sao. Những tấm mo khi rụng xuống đất, to bản gần bằng tờ giấy khổ A4. Tấm nào cũng có hai mặt. Mặt nắng mưa có màu nâu già, mọc nhiều lông thô và nhám. Mặt nhàn nhã trắng trẻo bóng mướt, có thể cầm mà soi gương chải tóc được.

Dế mú mang mo tre về ngâm trong thùng gỗ thông rồi đổ nước vôi tôi cho ngập miệng, dùng hòn đá tảng đè nén nó xuống . Ngâm đủ hai ngày, dế mú vớt mo lên, tước nhỏ, đem phơi nắng gió và se thành sợi. Mỗi sợi dài hai ba gang tay, to bằng giây giầy ba ta. Bện cho ai thì ướm vừa chân người ấy. Hài xảo có hai mặt. Mặt tiếp đất phải tạo vỏ xù xì để làm tăng ma sát. Xỏ bàn chân vào được rồi thì lấy tay móc quai xâu giây, sao cho nó ôm chặt từ gót đến mũi bàn chân. Hài ôm chân như dẻo như bánh dày. Dùng nó để đi trên đá răng mèo, vào rừng hái củi, lên đồi cắt guột đều thuận tiện. Thậm chí dùng hài xảo để đi chợ, đi hội, đi tán gái… chả ai dám coi thường. Hài xảo đi trong nắng xuân hay mưa đông đều được. Hài xảo đi trong bùn lầy hay trên nền gạch hoa không trượt không trơn. Nghe tiếng nó rên, nó rít, nó nghiếng răng chịu trận mà thấy thương hài xảo. Đó là một kiểu nửa giày nửa dép, nhấc chân lên thấy nhẹ, mà đặt chân xuống lại đằm. Khiến cho người đi đường cảm thấy tự tin ở đôi chân chắc khỏe của mình.

Ngày nay không còn ai dùng nó nữa. Hài xảo trở thành ký ức một thời. Nhớ hài xảo, làm tôi lờ mờ thấy chú Phin giật lùi đi ra cửa.

Chú Phin là con trai một, nên được dế mú nuông chiều và mời thày đồ tận Bản Nhủn Bản Nhả đến nhà dạy chữ. Chú được làm quen với bút lông, mực tàu, giấy bản từ ngày lên sáu, bảy tuổi. Dế mú đều xuất thân từ nông dân nghèo, một chữ nhất bẻ đôi không biết. Nhưng họ lại tậu chữ cho con mình. Muốn thay đổi cuộc đời không gì bằng chữ nằm trong sách. Để nhà cửa. Để đất đai. Để vàng bạc, khi cần, chú sẵn sàng đem bán. Lại trở thành trắng tay. Nhưng cái chữ nằm ở trong đầu, chẳng mất đi đâu mà sợ. Dế mú thật là cao kiến.

Được cái chú Phin học hành thông minh sáng dạ. Học được chữ nào, lèn chặt vào bụng chữ đó. Càng lớn lên chú càng yêu chữ. Yêu chữ đến phát điên phát rồ.

Tết Nguyên đán, mừng tháng Giêng năm mới, chú viết chữ đại tự dán lên ban thờ. Dán câu đối lên cột nhà. Treo chữ trên khung cửa. Chú còn đề thơ tặng cho cây hồng, cây đào, cây mận, cái cối đá, cái chày gỗ, cái chổi quét nhà…

Một khảnh rừng nho nhỏ, bỗng sáng rực lên màu đỏ son. Chữ nào cũng được chú viết với đường nét thanh thoát, bay bướm. Mỗi một con chữ ra đời như một làn khói sinh ra từ lửa. Làn khói xanh vươn cao bằng người, bay lẫn vào cây. Cây nối lên trời biếc. Chú nói rằng vạn vật hữu linh. Bất kể cái gì ở trên đời này đều có cuộc sống vật chất và linh hồn. Chẳng qua người không biết nghe cây nói. Ngôn ngữ của cỏ cây mảnh hơn làn khói. Lâu lâu mới được một tiếng. Nhiều tiếng gom lại được một lời. Lời của có cây chính là lời của ân đức. Bài thơ mà chú viết dán lên cây, là lời người biết ơn các loài thảo mộc.

Tết nhất đến mà trong nhà chả có gì bày biện, thôi thì có một dúm chữ mọn, bần nho Phin xin hiến tặng các vị một chút lòng thành. Chữ thánh hiền mà treo nơi gia cảnh bần hàn. Nhưng không hề tương phản . Nhà rách, vách nát, áo ngắn, quần vá, nhưng chủ nhân lại đầy một bụng chữ. Chữ nào cũng lành lặn. Chữ nào cũng núc ních béo tròn phúc hậu. Những con chữ đưa tay ra cứu vớt người.

Nhớ ngày xưa chú Phin rao giảng cho bọn trẻ trâu chúng tôi thế nào là “tứ hải giao huynh đệ”. Năm châu bốn biển đều là anh em ta. Người Tày, người Nùng, người Dao, người Mông, người Hoa, người Kinh, đến Tây Ma Rốc người Pháp…đều là Người. Đã là người thì chỉ có thương yêu thôi chứ, sao lại ghét bỏ. Làm ra người khó hơn nhóm lửa trên mặt nước. Sao lại có thể phản thùng, chém giết lẫn nhau như ngóe. Đúng không nhỉ. Có lần, tôi nhìn thấy chú khai trong cuốn hộ khẩu:“ Họ tên Lương Văn Phón. Sinh năm 19… Nguyên quá….Trú quán… Dân tộc: NGƯỜI!”.

Advertisements