Y PHƯƠNG

Tháng giêng
tháng giêng
một vòng dao quắm (V)

Sông bơi

Lúc này, ở Hà Nội, nắng nóng có dễ đến ba chín bốn mươi độ. Nhìn vào đâu cũng thấy sừng sững những khối nắng, vuông vắn, tròn trặn. Nắng phủ kín lên các tầng nhà. Nắng chồng lên bê tông. Bê tông ngất ngưởng. Bê tông dày đặc. Nhà bê tông. Đường bê tông. Cầu bê tông. Hàng rào bê tông. Đến sân chơi cho trẻ con cũng láng bê tông. Tất tật đều bằng bê tông. Mà bê tông là vật liệu hấp thụ nhiệt vào loại siêu đẳng. Thực ra, tất cả các thành phố lớn nhỏ trên thế giới, đều xây cất bằng bê tông cốt thép. Bê tông uống nắng hừng hực như bò điên. Nó uống ngay từ lúc còn là tia nắng vàng lẩy bẩy, uống đến cuối ngày. Cả mấy tháng trời, bê tông trần truồng dưới cái nắng mùa hè, chói chang oi bức. Ai mà không ngán. …

Mọi người ở quanh đây cho biết: Cái nắng Hà Nội như thiêu như đốt. Nắng như đổ lửa. Nắng cháy da cháy thịt. Nói thế nào, nói kiểu gì cũng đã nắng rồi. Tôi là dân đồng rừng. Sợ nắng nóng hơn sợ cọp. Nhìn thấy nắng là tôi co rúm người lại. Được cái dạo này chuẩn bị nghỉ, nên tôi ít phải đến cơ quan làm việc. Cứ ở nhà là quần đùi, áo may ô, dán lưng xuống nền gạch hoa. Mà nào có mát. Cây quạt Nhật bắn mồ hôi ra như mưa đá. Bao nhiêu nước chiêu vào người đều bị cây quạt hút. Nó hút no. Quạt lại làm văng ra. Hạt nước mọng căng, to như hạt ngô. Bắn vào đâu cũng nổ chít xèo, chít chít xèo xèo. Rán mỡ trên chảo gang, chắc cũng chỉ nóng giòn cỡ này. Trời ạ! Càng quạt càng nóng. Nhưng không quạt thì làm sao nhịn được. Biết trốn vào đâu bây giờ?

Mùa hè, trên sông suối quê tôi, lúc nào cũng từng đàn vịt tung tăng nổi lên mặt nước. Nhiều đàn họp lại thành những đám mây màu trắng. Mây nổi trên mặt nước. Chúng như những cục bông trắng muốt, nhởn nhơ bơi đi rồi bơi lại. Vừa bơi chúng vừa nhìn xuống đáy sông, cứ ngỡ sông cũng đang bơi như mình. Dưới đáy sông có biết bao hòn đá cuội. Hòn to. Hòn nhỏ. Hòn dẹt. Hòn tròn. Hòn màu xanh dương. Hòn vàng như vỏ quýt. Hòn đỏ như tiết dê. Hòn đen tuyền như hột nhãn. Chúng gật đầu, cạp cạp bảo nhau lặn xuống, cặp lấy một vài hòn lên xem. Đẹp thật. Quả là đẹp mê hồn. Những hòn đá nhỏ như viên bi. Nói chính xác đó là những đóa trầm tích. Hàng triệu năm mới có. Phải đến ty tỷ đá núi bị nước bào mòn mới được một hòn đá cuội. Cái vỏ xấu xí ngang ngạnh của đá bị nước bào dần, qua hàng thiên niên kỷ. Đến một ngày, sắc đẹp của đá mới lộ ra. Đấy là điều bí mật tuyệt vời nhất của tự nhiên. Nhưng giữa nơi chốn quạnh hiu, chả biết dùng vào việc gì. Chúng lại thả cái đẹp về với sông nước nguồn cội.

Nước sông, nước suối quê tôi quanh năm trong xanh ngăn ngắt . Ngay cả đến những ngày bão lũ, nước chỉ đùng đục có vài ba giờ. Sao đó trở lại màu xanh rêu vốn có. Cái màu xanh rêu như trời dưới đáy sông, đã làm cho tôi sợ từ hồi còn nhỏ, đến bây giờ. Bà nội tôi bảo dưới đấy là Thủy cung. Nơi ở của vua Diêm Vương. Ngài có trong tay đội quân thuồng luồng, quỷ đầu trâu mặt ngựa. Mắt lồi ,trán ngắn, tóc rễ cây, răng nhọn sắc như xà beng, Mặt nâu, sần sùi như quả mít. Kẻ nào ăn ở thất đức, sẽ bị ngài sai đội quân ấy đến bắt. Đem bọn ác nhân xuống thủy cung, rồi dùng cưa cá mập cắt đầu cắt chân. Cưa xong đem thây chúng quẳng xuống vạc dầu. Chúng biết thành bánh quẩy.

Thực ra đấy chỉ là điều răn dạy, khi con người ta đang còn là một tờ giấy trắng. Nhưng cái màu nước như trời xanh, chảy theo hết cuộc đời. Mỗi khi bàn tay vô tình chạm phải những điều bất nhân thất đức, gây hằn thù tội lỗi, là vội vàng rút tay trở lại. Cái màu xanh bền bỉ như trời dưới đáy sông, cứ như thế mà làm tôi mát. Mát ngay bây giờ và tại nơi này. Cho dù tôi đang ngồi dưới đáy một chảo lửa.

Đã gần năm giờ chiều. Trời Hà Nội vẫn oi bức. Nhìn vào bất cứ đâu cũng thấy bỏng rát cả bốn năm con mắt. Hai hàng cây bằng lăng bên đường đang bị say nắng. Lá già, lá non ngoắc ngoải trên cành. Chúng không buồn phe phẩy. Từ gốc đến ngọn, lá im như chết. Lòng đường thì nghi ngút, tôi trông thấy cả một núi khói. Mặt đường đang bị hỏa thiêu. Vậy mà người người bịt đầu bịt mặt vẫn cắm đầu đi. Từng dòng xe nối đuôi nhau. Làm thế nào được. Vì cuộc sống mà ngày ngày phải vật mình cho mưu sinh. Dù phải mưu sinh ngay trong lò nung. Người ta quen rồi. Sinh ra và lớn lên từ nhiều đời tắm suông trong nắng cực. Họ quen với cái nóng. Không biết những cư dân gốc của thành phố, họ có bị nóng tính như lửa? Người Tràng An ấy mà.

Từ hồi còn ở nhà, tôi thấy những cô gái người miền xuôi, thường có nước da được nắng. Người ta gọi bằng cái tên khêu gợi và quá ngon. Da bánh mật. Da bánh mật với cặp mắt nâu. Họ làm tôi nhòm nhèm thích thú và tò mò muốn biết. Có đôi lần tôi muốn hỏi này em ơi! Em ăn gì mà người em ngọt vậy. Anh muốn nếm em xem nó thế nào. Đó là những năm, có các cô gái từ Hải Dương lên Cao Bằng xây cầu, làm đường.

Nhưng với bản tính của người miền rừng. Tôi nhát. Đến tận bây giờ, tôi vẫn chỉ là người thòm thèm. Thòm thèm đứng từ xa nhòm ngó, kín đáo nuốt nước miếng mà thôi.

Vào giờ này, trên quê tôi nắng đã dịu. Bóng núi xanh đổ xuống vá sắp kín cánh đồng. Cánh đồng lúa đang mơn man xanh. Những người đàn ông đứng trên bờ ruộng phanh ngực áo. Họ đang thầm ao ước, nếu cứ đều đặn ngày nắng đêm mưa. Chẳng mấy chốc hạt thóc lớn như thổi, tự chạy về đầy bồ. Còn đàn bà ngồi chơi ngậm cỏ. Họ đang nghĩ rằng nay mai mình lại được làm trẻ con. Được làm trẻ con nên lúa mãi ở thì con gái. Gío từ lòng thung thổi tới. Mang theo mùi tanh tôm cua ốc ếch. Chỉ một lát nữa thôi. Tắt nắng hoàn toàn. Khắp cánh đồng làng râm ran tiếng người gọi trâu bò, gà vịt về chuồng. Con nào con nấy no căng phồng. Kục kịch đi. Lạch bạch về. Gặp người làng là chúng biết tránh đường. Những con vật mà người làng tôi chăm nuôi, chúng lễ phép như người lớn.

Mẹ tôi nói: Tốc đin rà mạ tẩc. Tốc đin than mạ me. Nghĩa là sống tại đất mình thành ngựa đực. Sống ở nơi người là ngựa cái. Ngựa đực luôn ở thế thượng phong, chủ động. Muốn gì được nấy. Còn ngựa cái chỉ để cho người ta cưỡi. Luôn luôn ở tư thế bị động. Nhưng bốn mươi năm nay, kể từ ngày xa nhà, tôi chưa bao giờ cảm thấy mình là ngựa cái. Dù sống ở tận đâu, chân trời nào, tôi vẫn là một con ngựa đực. Một con ngựa đực đàng hoàng. Tý ty nóng bức ở Hà thành này thì nhằm nhò gì. Hãy nghĩ về những con sông quê đang bơi. Bơi từ chân núi Phà Làng bơi tới thung hoa. Thung hoa ngày xưa nở đầy hoa mua tím, bây giờ người ta gọi chệch thành thung lũng Thông Huề. Thật tiếc. Giá cứ để tên Thung Hoa thì đẹp biết bao. Thông Huề là gì nếu không có con sông Bắc Vọng chảy qua. Nước sông Bắc Vọng xanh như trời. Trời dầm trong nước sông cùng với da con gái. Nên da trời trắng ngần. Còn mắt người thì long lanh lưu hai giọt nước. Hồn người Thông Huề lâng lâng, dâng lên muôn điệu hát Nài sli.

Cứ tới xứ này, bạn ơi, ngỡ là mùa thu cũng đang phi phí mát.

Chiếu trúc nhìn ta

Cây trúc sào cùng họ với tre, mai, nứa, luồng…Cây to nhất, bằng ống chân. Cây thấp nhất, cũng được năm sáu mét. Nhưng trúc có đặc tính thân thẳng, gióng đều. Cây trúc mọc vuông góc với mặt đất. Đứng thẳng tưng từ gốc đến ngọn. Ngay ngắn, nghiêm túc là tính cách của trúc. Không chịu khuất phục trước bất ai, với bất cứ cái gì. Từ khi còn là những nó măng ló lé, trúc đã tràn đầy tinh thần khảng khái.

Vào rừng trúc, bạn sẽ thấy cây mọc là là. Dù chúng mọc trong môi trường tự nhiên, nhưng chúng trật tự và ngăn nắp. Bạn sẽ được tắm tia nắng sớm chiếu qua. Ánh sáng tạo thành một rừng trúc lung linh màu vàng rơm. Đi trong màu vàng rơm bạn sẽ thấy mình gầy và cao ngẳng. Đó còn là vẻ đẹp mà tự nhiên ban tặng cho loài trúc.

Cây trúc gợi cho ta nhớ đến bóng dáng của bậc hiền nhân. Hình ảnh tượng trưng về những người quân tử. Đó là những người hội đủ năm đức tính: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín mang ra mà giúp đời. Người quân tử xưa, chính là người trí thức ngày nay. Những đóng góp của tầng lớp ấy, thật vô cùng to lớn.

Cây trúc mọc tươi tốt ở vùng rừng Nguyên Bình, Thông Nông của tình Cao Bằng. Thổ nhưỡng ở đây là núi đất nâu, lẫn đá thạch anh. Mưa lâu không bị ủng. Nắng nhiều không bị mất nước. Hanh khô mãi mà đất không bị bong thành bụi. Núi ấy phù hợp với cây trúc sào. Nếu nhìn từ xa, rừng trúc như đàn gấu xanh khổng lồ, chúng đang lin lít ngủ đông. Ôi những chú gấu ngủ đông, thỉnh thoảng lại rít lên từng cơn, để đùa lại ông trời.

Núi trúc ở đây, có độ cao trung bình từ tám trăm đến một ngàn mét, so với mặt nước biển. Núi nọ cầm tay núi kia đi mãi đi hòai. Đi hết cuộc đời người cha, sang cuộc đời con đến cuộc đời cháu, chắt, chút, chít… vẫn quẩn quanh chỗ cũ. Nên những người dân sống xung quanh núi trúc, có cái tên Tày đóoc Tày mục. Thà bị mục, chứ không chịu đổi thay nơi ở và số phận. Đây là nét tính cách điển hình và có phần nào hạn chế của người Tày.

Trong rừng trúc, hầu như không bao giờ có thú lớn. Chỉ cần nghe lá trúc reo, là hổ báo với lợn rừng tự mình mềm oặt. Cả chân tay, lẫn dáng vẻ oai phong lẫm liệt đều bị triệt tiêu. Thi thoảng có vài con dúi, con chồn hương, con chim trĩ đi quá giang để về rừng gìa tìm nơi trú ngủ. Nhưng muỗi vằn và dĩn đực nhiều như trấu vãi. Chúng kêu ong ong, inh inh suốt ngày đêm, gây cho người dân vùng rừng vô cùng khó chịu.

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ hai mươi, người Pháp đã biết đến tiện ích và tính thẩm mỹ cao của cây trúc. Họ mang giống cây “hiền nhân quân tử” của người Cao Bằng sang Tây phương làm cần câu, làm gậy trượt tuyết, làm đồ trang trí trong nhà. Không chừng họ còn mang về gây giống ở bên ấy, trồng thành rừng đặc chủng.

Trúc sào Nguyên Bình, Thông Nông bỗng trở thành giống cây đặc dụng, cây mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế. Nhân dân các dân tộc Cao Bằng, từ sớm họ đã biết chế biến cây trúc làm các mặt hàng mỹ nghệ. Bộ bàn ghế trúc nhẹ nhàng, thanh thoát mà bền chắc. Người ta còn làm thành những cái chao đèn. Bộ khay cốc tách uống trà. Những đồ dùng vật dụng được làm từ trúc, đã có bày bán. Và bán rất chạy, tại khu triển lãm Giảng Võ từ những năm 80 của thế kỷ trước.

Ngày nay, cùng với những tiến bộ khoa học kỹ thuật, người ta xử lý ngâm tẩm cây trúc trước khi làm thành phẩm. Sản phẩm không bị mối mọt, giữa được bền màu. Những tấm chiếu trải giường, trải trên nền nhà, bạn sẽ ấm áp về mùa đông, mát mẻ khi hè về. Chiếu trúc làm sang căn phòng nơi bạn ngủ. Làm sáng nơi khách khứa đến ngồi đàm đạo. Tạo ra một bầu không khí tự nhiên gần gũi, giữa phồn hoa đô hội.

Chiếu trúc có đặc điểm, càng dùng lâu càng đẹp. Cái màu vàng óng như mật ong, như nắng vàng, chỉ nhìn mà thèm. Khách du lịch lên Cao Bằng ngẩn ngơ trước quầy hàng tre trúc. Bên cạnh những chiếc chiếu dệt bằng máy, giống nhau trằn trặn, là chiếc chiếu đan bằng tay. Khổ to, nhỏ, rộng, hẹp là do các khách hàng yêu cầu. Hoa văn hình quả trám. Hình chim thú. Hình mặt trời mặt trăng. Hình chiếc trống. Hình ngọn lửa cách điệu. Tất cả hiện nghiêng nghiêng trên mặt chiếu. Bàn tay của nhưng người nghệ nhân vùng Canh Tân Minh, thực sự là những bàn tay vàng. Chiếu đan xong bạn có thể gấp như giấy bìa. Rất dễ dàng khi đóng gói, hoặc cho vào valy. Chỉ cần bạn rưới một chút nước ấm lên chiếu cho mềm lạt.Khi gấp, chiếu không bị chết nếp gấp.

Chiếu trúc Canh Tân Minh Khai đẹp và tiện dụng là thế. Song, tôi chỉ thấy xuất hiện trên thị trường nội tỉnh Cao Bằng. Đấy là một điều thiệt thòi cho những người dân bản xứ. Thủ công mỹ nghệ ở đây, hình như chưa trở thành một nghành kinh tế mạnh. Có lẽ nó xuất phát từ quan niệm của người Tày Táng hết táng kin tự làm tự ăn. Một hình thái kinh tế tự cung tự cấp, vẫn tồn tại cho đến tận bây giờ.

Gia đình chúng tôi, có mang theo vài tấm chiếu trúc từ quê nhà mang về Hà Nội. Đây là tài sản tinh thần, hơn là dồ dùng vật dụng. Mỗi khi đi công tác xa về, nhìn thấy chiếu trúc như gặp lại quê hương. Bao nhiêu mệt mỏi đường xa, đều tan đều biến. Chiếu trúc mỏng manh, nhẹ bỗng, mà sâu thẳm như người. Mỗi chiếc lạt như muôn cánh tay đan chặt hòa quyện vào nhau. Lành, rách, sang, hèn cùng chịu chung số phận. Nằm hay ngồi lên chiếu, ta như được sà vào lòng mẹ. Những chiếc nan óng mượt, ôm ấp lấy da thịt mình như người thân, như người thân. Ta nằm nghiêng, áp tai mà nghe chiếu nói. Tiếng nói quê hương có màu rơm vàng. Có làn nắng non. Có hoa bjooc phón. Có tiếng suối róc rách chảy. Có tiếng nghé ọ. Có giọng bà ru cháu… Chiếu trúc rộng có bốn mét vuông. Bốn mét vuông mà làm yên lòng con người. Lòng người bình yên giữa phố xá chen chúc, ồn ào và bụi bặm. Bốn mét vuông chiếu trúc thẳng thắn, trung thực giữa cuộc đời đầy mưu toan, lươn lẹo bất lương. Bốn mét vuông mà chứa chan tình cảm con người Cao Bằng. Trải chiếc chiếu trúc ra, căn hộ chật hẹp của tôi bỗng rộng rênh như đường lên với núi.

Áo tân thời bước vào cửa

Hàng năm, cứ vào độ tháng chín tháng mười âm lịch, lúa má từ ngoài đồng xồ xồ nhảy vào bồ bịch. Bồ bịch và thạp đựng thóc cứ ngồng ngàng ngồi chật nhà. Những người dân ở quê tôi lại nhúng nhính rộn ràng bước vào mùa cưới.

Phần nhiều những đám cưới được tổ chức theo nghi thức cổ truyền của người Tày. Trang trọng trong nghi thức và lịch sự trong tiếp đón khác khứa. Đầy đủ các đồ ăn thức uống mặn ngọt, và vui hát lượn tràn đêm đến sáng bạch. Nhưng cũng có không ít đám cưới chạy theo mốt thành thị. Họ bày biện chẳng giống ai, nửa kiểu của ta nửa kiểu của tây. Nửa đã chín, nửa còn sống. Nửa nông thôn miền núi, với nửa thị thành chưa rõ hình hài. Những cái nửa ấy, đan cài xâm lấn vào nhau làm thành một thứ lễ lạt lộn xì ngàu. Người ta gọi đó là lễ cưới tổ chức theo thời đại mới! Nghe mà sáng.

Khi có người già thắc mắc vì sao lại làm như thế, thì họ đổ dồn cho đám thanh niên con cháu. Rằng các anh các chị bây giờ học hành cao, hiểu biết nhiều, thì nó như vậy. Các cụ đành tự biết mình cổ lỗ sĩ rồi, dẹp ngay cái tự ái của người cao tuổi đi. Các bậc bề trên cứ yên tâm nhâm nhi ngồi uống rượu Thông Nông Tắp Ná. Hãy học tập ngô thóc trong bồ bịch. Ngô thóc có nói năng gì đâu, mà mùa màng vẫn tươi tốt xanh rì trên cánh đồng Mục Mạ. Nhưng. Nói gì thì nói. Đúng là đám cưới ở thời hiện đại, khác rất xa với ngày cha chú và lứa anh chị chúng tôi làm dâu làm rể.

Ngày nay, nhờ cha mẹ chúng ăn nên làm ra, những chàng trai cô gái trạc tuổi 8x, 9x, thuê xe ô tô bóng loáng, mới coong, cái hiệu Toyota, cái hiệu Hyundai… vào tận cửa chuồng trâu, để rước dâu về nhà.

Hơi xăng A 92 trộn lẫn với phân trâu bò, làm thành cái mùi đặc biệt cho ngày đại hỷ, tại miền quê heo hút này. Các chàng rể phù rể tuyền áo complê đen thắt cà vạt đỏ. Các cô dâu phù dâu áo tân thời, đeo nữ trang vàng chóe. Họ bật cửa, thò đôi chân sáng bóng như gương, lọc tọc lộc ngộc bước xuống xe. Nhìn trước nhìn sau xem có ai nuốt nước bọt, rồi họ mới ghé vai bưng mâm bê tráp. Mâm tráp có phủ khăn nhiễu màu hồng, thêu chữ song hỷ. Song hỷ rung rinh râu tua ngù vàng. Áo hồng, áo đỏ, áo xanh nõn chuối lấp ló bên bờ rào, bên các con rơm, đi bên cạnh những chú bò vàng, đàn lợn khoang. Làm chúng hốt hoảng lồng lên, chạy ào ào vào chân rừng như đang có cơn động đất. Áo tân thời ngoác miệng lên cười he he, làm bừng phừng núi đá, đồng rạ. Vốn nơi đây từ xưa tới nay vẫn thiếu ánh ngày. Rừng cây cổ thụ tối om từ xưa. Hang đá lạnh lẽo thâm xì. Nay bỗng dưng nhất loạt sáng bừng lên.

Tôi thấy lạ lẫm quá.

Này là áo tân thời khoét rộng cổ, vai bồng. Này là guốc cao gót dép xăng đan năm phân. Này là phấn son lòe loẹt, xức một chút nước hoa SAIGON gắt như đàn bà con gái khu bốn, đi tới đâu khiến người ta nhức đầu đến đó. Tôi thấy các nóóng nééng trèo lên thang tre. Thang tre vừa trơn vừa kêu cọt kẹt. Các nóóng nééng cúi lom khom đi vào cửa vóng. Cửa vóng thấp tè làm khổ áo đẹp rồi. Áo tân thời eo cắt cao, để hở cạp quần. Một mảng da thịt tươi ngon như phở Sláy. Họ làm như thế là để thu hút sự hiếu kỳ của người làng chăng? Những ai lớn tuổi đều không dám nhìn, vì họ ngượng. Còn đám trẻ thì bụm miệng tho lo. Hai con mắt thi nhau liếc. Nước dịch nhom nhem làm ướt xuống tới bẹn. Đầy một bụng tò mò. Chắc chúng nó lấy làm thích thú lắm rồi. Nhìn thì biết. Nhưng chưa hết đâu, áo tân thời còn kèm theo mái tóc thề “để gió cuốn đi”. Áo tân thời ôm khít khịt vào dáng người. Nên nó càng làm nổi cái túng tính tùng tình cả đôi quả vả. Quả vả nào cũng mọng căng bầu bì đường mật. Trời ơi là trời! Đất đá rừng cây nhảy cẫng lên, dựng đứng tóc gáy. Chưa bao giờ người làng nhìn thấy cái sự eo đẳn lẳng lơ lộ liễu đến nhường này. Đời này đời gì à nhỉ…

Xem ra, những chàng rể nàng dâu người Tày ngày nay, họ muốn lột xác nhanh chóng để trở thành những chàng trai cô gái người mẫu thật rồi. Điều này không có gì xấu cả. Thậm chí cánh già còn động viên khuyến khích, lớp trẻ cứ tự tin vào vốn liếng hiểu biết sâu sắc ở bản thân mình. Họ phải làm gì cho mọi người được hiểu biết thấu đáo về một vùng văn hóa Tày Nùng. Nó độc đáo ở chỗ nào, bản sắc ra làm sao. Nhưng đấy là một việc làm không hề dễ dàng. Bởi đây là một hoạt động có tính khoa học nghiêm túc và có tầm vóc chuyên sâu. Không phải hễ cứ nứng lên, thuận mồm a dua làm bừa mà được.

Đâu rồi nhỉ, tà áo chàm thắt lưng the, đổ cả ra đằng sau. Hai dải thắt lưng buông một cách hững hờ trễ nải, trông như hai con nước màu chàm. Nước chàm êm đềm chảy xuống chạm gót son của những nàng thiếu nữ. Nàng thiếu nữ bước đi khoan thai trên cỏ xanh, phát ra tiếng kêu leng keng của vòng bạc, chạm giây xà tích. Tà áo gió đưa. Mùi áo mới thẹn thùng. Màu vải trắng của gấu áo lót, mặc ở bên trong lại làm lộ ra một cách cố ý. Nó khiến cho những con mắt của người trai chưng chửng khát, la lả đói.

Đâu rồi nhỉ, chiếc khăn vải láng công tùn, hay khăn nhung ướt, tự lấy tay mình gấp thắt hình mỏ quạ, rồi thả một lọn tóc như đuôi con gà trống. Đuôi con gà vắt vẻo như tiếng gáy làm duyên.

Đâu rồi nhỉ, đôi giày vải chàm uốn cong mũi hài. Hai bên má giày thêu hoa mộc miên. Hoa mộc miên nồng nàn như tình yêu đang lửa. Đôi mũi hài mang hình đò trăng mới nhô lên hôm mồng sáu.

Đâu rồi nhỉ, nón chúp lảp nghiêng nghiêng, che nửa mặt người như bông hoa ló hiện. Đâu rồi nhỉ…Đâu rồi nhỉ…Đâu rồi…???

Những hình ảnh nàng dâu người Tày một thời chưa xa. Chưa xa là bởi chỉ cách hôm nay trên dưới hai chục năm. Vẫn còn ở đâu đó, cảnh rước dâu bằng đôi chân pằm pặp của đoàn người đi bộ. Vẫn còn cảnh gồng gồng gánh gánh, bánh dày tròn, bánh trưng vuông với chú lợn cưới. Chú lợn cưới cười không nhìn thấy mắt. Nó cứ ti hí lờn lợt như mắt quan tham. Trước khi về nhà gái, chú ta đã được nhà trai tắm rửa sạnh sẽ thơm tho bằng nước lá mùi tàu.

Vẫn còn đâu đó cảnh gồng gánh chăn bông thêu thổ cẩm.Vẫn còn đâu đó cảnh cho nồi nhôm vào túi, chậu đồng dùng cho vào dậu. Vẫn còn đâu đó cảnh khiêng vác hòm xiểng bằng gỗ thông Bảo Lạc. Cả đám quà cưới cồng kềnh theo cô dâu về nhà chồng. Bà con cho rằng, càng cồng kềnh thì càng vinh vẻ, đàng hoàng cho hai họ. Cưới xin chứ có phải mua bán. Dâu con chứ có phải bồ bịch mà lén lút.

Song, tôi cứ thấy tiếc. Thật tiếc. Tiếc là vì từ nay ít có dịp nhìn thấy bóng dáng mẹ ta, chị ta, em gái ta trong sắc áo chàm ở các lễ hội và cưới xin.

Các bạn ơi! Trong đời người chỉ có một ngày thật đặc biệt cho mình. Chỉ còn có đúng một ngày thôi, đâu mà nhiều. Một ngày chót chét được làm cô thanh nữ còn “gin”. Rồi từ mai, sau đêm tân hôn động phòng, cô gái bây giờ đã trở thành một người hoàn toàn khác. Một người đàn bà thực thụ.

Ngày cuối cùng của đời thanh nữ, cần phải mặc trang phục cổ truyền của dân tộc. Đó là niềm tự hào vô cùng chính đáng. Những người phụ nữ Tày mặc áo Tày, họ không chỉ đẹp một cách dung dị chân phương, mà còn thiêng liêng và vô cùng cao qúy. Thiêng liêng vì nó là sản phẩm sáng tạo của tổ tiên ông cha giống nòi người Tày để lại. Cao quý là vì sản phẩm tự tay mình trồng bông dệt vải. Tự tay nhuộm chàm. Tự tay vào nâu. Tự tay xuống máu. Biết bao công sức cả năm trời dồn vào làm thành một chiếc áo. Áo chàm đẹp là vì mẹ dạy ta may cắt khâu vá lấy. Nếu thấy áo chưa đẹp, thì bỏ đi, cắt may cái khác. Chừng nào thấy áo vào mắt, ưng trong ruột thì thôi. Từng đường kim mũi chỉ đi từ của người ruột thịt, nên nó được truyền bằng hơi thở nóng. Khi nàng dâu xuất hiện trước ban thờ, ra mắt pú dzả pa me họ hàng nhà chồng, người ta đã thấy ngay cái sự có cùng tiếng nói. Cùng tiếng nói là người một nhà rồi.

Theo các nhà khoa học lịch sử, chiếc áo Tày xuất hiện ở nước ta từ rất sớm. Có thể tính từ niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Trải qua rất nhiều đời, người Tày vẫn căn bản giữ gìn và có biến thể chút ít theo thời trang của từng lớp người. Còn nhớ thời bà nội tôi dùng chiếc áo nạp. Nó khá giống với chiếc áo cỏ cổ truyền của người phụ nữ Hàn Quốc. Đến thời mẹ tôi thì áo chàm cài năm cúc đồng ở bên phải, đội khăn ngang. Đến ngày chị tôi thì chít khăn mỏ quạ như người Kinh Bắc.

Nay áo tân thời may sẵn có bán đầy ở ngoài chợ huyện. Ai cũng có thể tùy sở thích của mình mà chọn. Áo tân thời may bằng chất vải tơ lụa bóng mượt, nhưng chủ yếu là hàng vừa tiền và rẻ tiền. Nó là hàng chợ, nên chỉ dành cho những người dài lưng, dài chân nhưng ngắn tay ngắn óc. Chả biết thanh niên nông thôn Tày Nùng ngày nay thấy áo tân thời tiện ích, hay bắt chước người Kinh ở nơi phố xá. Họ cảm thấy như thế nó sang hơn? Đẹp hơn? Sành điệu hơn? Trong khi đó, cái mình đang có, tự dưng để mất. Buồn. Một nỗi buồn như đất dính dép. Buồn. Một nỗi buồn như ngày mù trời mà trong nhà vừa hết củi. Thương sao.

Đi chợ nhìn người

Hồi còn bé, tôi hay trốn mẹ, trốn bà đi chợ. Phiên nào cũng đi. Nhưng trong túi chả bao giờ có tiền. Song vẫn cứ thấy thích. Hễ nơi nào đông người là tôi mê mẩn. Bất kể người lạ hay quen, cứ ở đâu có mùi mồ hôi muối, hay cái gì ngây ngấy, tanh tanh là hấp dẫn tôi như nghiện. Khi sinh ra, hình như tôi đã có vấn đề về khứu giác. Chả thế mà có lần nhà thơ Trần Hùng nói tôi đánh hơi nhậy như con chó cún. Hùng ở đâu về, nếu có điều gì sinh nghi, bao giờ hắn cũng nhai một tép tỏi để đánh lừa tôi. Hai thằng lại bá vai nhau cười hô hố ha há, khô cả mấy hàm răng. Sướng!

Ở vùng núi, đặc biệt phiên chợ đắp, tức ba mươi tết, dù có bận như gạo cho vào nồi, người ta cũng phải đi chợ. Mua bán chỉ là phụ. Cái chính là để hỉn chơi nhìn người. Người đi đông như nêm cối. Người lèn người chặt chẹt đến nỗi lồi cả bốn mắt cá chân. Một rừng người lao xao vừa đi vừa chào. Ai cũng diện áo mới, quần mới, khăn mũ mới, giày dép mới. Mới từ mười ngón chân mới đến hằng hà sa sợi tóc. Khắp nơi khắp chốn bay ra mùi chàm thơm nức nở. Khắp nơi khắp chốn phát ra tiếng kêu sột soạt của áo quần, may bằng thứ vải tự dệt, dày và thô như da bò. Các chị em đeo vòng bạc, giây xà tích, túi đựng trầu bằng thổ cẩm. Cả năm mới có một ngày để khoe. Khoe hai bàn tay dính đầy nhựa chàm. Ngón nào cũng có một bông hoa xoay tròn. Những người như thế, là họ vừa giỏi giang vừa chăm chỉ. Khéo tay hay làm là đáng tiền lắm. Các dzả, các mú tha hồ mà chọn dâu kén rể.

Chợ Co Xàu ngày ấy không tiếng còi, không tiếng động cơ xe máy. Chỉ có tiếng người và tiếng các cong rượu chạm nhau lum cum, lủm củm. Tiếng các bếp lửa nhà hàng eo éo xồ xoà . Người nói với nhau rì rầm như bầy ong về tổ. Người làng nào nói giọng thổ âm làng đó. Âm vực cao thấp giữa người làng này nghe rất khác người làng nọ. Mà giữa các làng cách nhau mươi cái bờ ruộng, đâu có xa xôi gì. Ví dụ cùng nói về sự rỗi rãi. Người vùng Pò Tấu nói dzu đài. Người vùng tôi nói dzu đai, hơi luyến lên một chút. Người Lũng Đính nói dzu đải. Đài, đai, đải có cùng một nghĩa là ở không. Hình như đây là một vấn đề thuộc lĩnh vực âm thanh âm nhạc. Song tôi chưa thấy ai nghiên cứu và khai thác nó trong sáng tác ca khúc hay khí nhạc. Từ xưa tới nay, tôi biết có rất ít bài hát hay về Trùng Khánh. Một vùng đất rất giàu tính nhạc, trong ngôn ngữ giao tiếp, trong các làn điệu hát dân ca. Cũng là một vùng đất đậm đặc tinh thần thượng võ. Tiết tấu nhanh và có những quãng đảo phách bốc lửa.

Cả một năm dài đằng đẵng đến tận Lòng Chu, mà chỉ có mỗi một ngày chợ đắp là đông đủ nhất. Dù ai đi Đông đi Tây đây, cũng cố mà về gặp lại người mình. Nhìn thấy nhau là quý lắm rồi. Nói với nhau đôi lời, uống với nhau bát rượu, hút với nhau điều thuốc. Thế là toại nguyện. Chỉ đơn giản thế thôi, nhưng đắm đuối tình người. Quyến luyến tình duyên lăm lắm.

Việc đầu tiên của tôi là xem ông thợ đóng móng ngựa. Những con ngựa cao bằng đầu người, bụng to như cái thùng phi. Người ta dùng nó kéo xe chở hàng, nên móng chóng mòn mau hỏng. Sáu tháng là phải thay một lần, mỗi lần thay cả bốn móng, chỉ mất già nửa tiếng.

Tự nhiên tôi mê ngắm nhìn ông thợ đóng móng ngựa. Tôi nể một con người thấp nhỏ, mà vần được cả một con ngựa to. Ông là người Lũng Làu. Dáng thấp đậm, râu bạc, lông mày bạc, da mặt đỏ hồng. Lúc nào ông cũng đeo một chiếc tạp dề bằng da dê thuộc, với cặp kính hai tròng. Ông lầm lỳ ít nói cười. Chỉ cần liếc mắt nhìn con ngựa một lượt từ đuôi lên đầu, từ đầu xuống chân, ông biết ngay tính tình chú ngựa kia hung hăng hay hiền lành, nhút nhát hay bạo dạn. Tay ông lắc nhẹ vào chiếc hàm thiếc, rồi chúm môi nói chuyện với con ngựa. Ông hỏi nó bằng một thứ ngôn ngữ riêng. Do ông sáng tạo: từ rừ từ rừ từ rừ lòi lòi. Con ngưạ hồng mao to đùng đoàng ngẫm nghĩ một lúc, tự động co một chân lên. Ông ta bèn lấy tay bẻ gập ngửa vó lên trời. Ông tỳ cả khủy chân con ngựa vào đầu gối của mình. Bắt đầu dùng kìm càng cua để nhổ đinh, vứt bỏ chiếc móng cũ đi làm một tiếng: Pẹt! Chiếc móng sáng loáng mòn vẹt, nó nằm chỏng chơ trên cỏ xanh như một nửa chiếc bánh óng ánh màu bạc. Đoạn ông cầm dao nạo, gọt nốt đoạn móng đùn ra, những chỗ bị nứt tòe. Ông áp chiếc móng mới vào ướm thử. Êm rồi. Vừa khít. Rồi ông bỏ chiếc móng mới vào lò than. Hai chiếc bễ thi nhau phi pho thở. Lò than bốc lên ngọn lửa xanh. Chỉ một lúc là chiếc móng sắt đã chín. Ông nhổ một miếng nước bọt vào lòng bàn tay. Hai xoa một đập. Lúc sau ông cầm lấy cán búa. Này thì đóng. Cốp. Chát. Xìn xịt xìn xịt. Xong một móng.

Nơi tiếp theo tôi tìm đến là con phố hoạn lợn, thiến gà. Khu phố này có tên hẳn hoi. Phố Nhả Nhùng. Đó là phố bán cỏ. Con phố chỉ có mười mét dài với ba thước rộng. Chưa bước chân tới phố Nhả Nhùng đã nghe tiếng ồn ào hú hét quang quác. Toàn những âm thanh chói chang gắt gỏng nhất chợ. Nhưng lại là nơi có nhiều người đàn ông râu dê tìm đến. Họ túm tụm cười cười nịnh bợ mấy thợ hoạn để xin vài hột ngọc kê. Chẳng hiểu vì sao người ta kháo nhau ăn gì bổ đấy. Thế là cánh đàn ông đổ xô đi tìm các loại ngọc. Ngọc dương, ngọc khuyển, ngọc mã, ngọc kê…Ngọc bất cứ con gì ở trong rừng, càng hoang dã khỏe mạnh càng tốt. Có người đem ngâm rượu. Lại có người mang về hầm ăn chín.

Các quý ông vốn là người mang niềm vui đến các quý bà. Ông khỏe bà mừng. Đấy không chỉ là câu trêu đùa. Nó rất thực tế. Rất cụ thể. Rất chi tiết. Rất nhân đạo. Thế nên ngọc kê trở thành của quý nhưng dễ tìm nhất. Bọn trẻ ranh với đàn bà là cấm có sờ mó. Người ta còn dọa trẻ con ăn cái đó sẽ bị thối tai, mù mắt. Thế sao mắt các ông càng sáng long lanh. Ha ha ha!

Ngọc kê, người ta không bán mua. Vì thế, nó mới phiền. Có thực lòng yêu quý mới cho nhau cái sự sung sướng. Cái sung sướng dù bán bao nhiêu cũng không bao giờ đủ, mua bao nhiêu cũng không bao giờ vừa. Lòng tham như gió chảy vào thung lũng. Cái sung sướng là thậm vô giá. Bất luận thế nào, các ông cũng phải “phấn đấu” để trở thành người bạn tri âm tri kỷ của mấy ông hoạn lợn ông thiến gà. Những ông hành nghề “cấm cho nó sướng” đều biết hết tâm địa của người đồng giới. Nhưng họ vẫn sẵn sàng vui lòng khi “tình cho không biếu không” nổi lên. Ai nỡ để người ta về buồn xìu về nhà với hai tay trắng. Người nhiều người ít thì nhón lấy vài hột đi. Hầy dzà! Còn làm bộ hỏi han nữa hả. Cầm về đi. Họ nhanh chóng rải lá tong rản, bỏ hột ngọc kê vào, đóng gói nó thật cẩn thận. Của quý to chư cuộn chỉ thêu, có dịch màu trắng đục, mùi nằng nặng, nhưng có vị ấm. Bao bì nó bóng bẩy trơn tru, có những đường vân màu tím nhạt, nhỏ li li, chạy ngoằn ngoèo. Ăn cái thứ đó vào, các cơ bắp sẽ nhọc nhạch nhày nhạy, hồi phục nhanh như gà. Thích lúc nào được lúc ấy.

Các ông râu dê nhìn nhau nhùm nhìm nhúm nhím cười. Hai tay khư khư ôm lấy túm lá tong rản. Hai chân khua như múa. Tới nhà, họ đổ cái sung sướng ra ang. Ngâm tẩm nó trong gừng già giã nhỏ với rượu dze củ nghiến, thêm một nửa thu xáu con cá trạch, cộng hai ba chú chim sẻ. Vậy là đủ vị, hoàn tất niêu viagra có trong tự nhiên. Họ đặt nó lên bếp than gỗ mạy lòi. Hầm thật cẩn thận, kỹ càng. Cái giống í càng hầm càng cương. Thế mới đặc hiệu.

Đợi cho đến nửa đêm trăng sáng, gió núi thổi suông, một mình một chiếu, nhâm nhi với tý cay cay nong nóng. Mắt thì nhèn nhèn nhìn vào miếng rèm buồng. Rèm mà động phòn phèn, là tín hiệu các con ngủ say cả rồi. Vào đây bố nó ơi! Thế là mẹ nó với bố nó ớ hời la. Mồm miệng se sẽ ho một tiếng è hèm. Khe khẽ chẹp ba cái chẹp. Đời chỉ có thế mà thôi. Ò ỏ ó ó ò o…

Tiếp đến là nơi ông vá chảo hàn nồi. Ông này là bố của một người bạn, cùng học với tôi ngày còn lớp một. Nên tôi biết khá tường tận. Ông tên là Thòong. Nhà ở Lũng Pán, cách phố huyện Co Xàu chừng hút hết ba điếu thuốc sừng bò. Ngày còn đi học, sáng nào Lương Văn Lóong cũng vào lớp muộn mười lăm ba mươi phút. Gặp phải hôm mưa dầm gió bấc, bạn đến lớp muộn một tiếng là chuyện bình thường. Tuy thầy Bế Cảnh người cực kỳ nghiêm khắc, nhưng không bao giờ trách mắng Lóong. Ngược lại, lòng thầy đầy thương cảm, quý mến cậu học trò nghèo, nhà xa trường.

Tôi gọi người bố của bạn mình bằng chú Thòong. Chú bảo tôi ngồi xuống kéo cái bễ phì phò hộ chú. Lát nữa tao cho mấy nắm hạt gang, mang về mà nhồi súng kíp. Có phải không nào. Nhưng nhà cháu không có súng và cháu cũng không biết bắn. Sao cháu dại thế. Mang góp với người có súng bắn đạn mác xá. Mười viên trúng một coi như thắng. Có phải không nào. Cháu là người góp của. Họ là người có công. Bắn được con chim gáy, con gà lôi chia nhau mỗi người một nửa. Có phải không nào. Thế là người nhà cháu có miếng mặn. Có phải không nào.

Hôm nay tôi trở về Co Xàu, lòng đi thật chậm. Thật chậm. Bước qua hàng hàn nồi vá chảo. Nhưng không còn dấu vết của chú Thòong với câu nói cửa miệng: Có phải không nào…

Đi thật chậm qua nơi đóng móng ngựa. Những con ngựa ngày xưa giờ đã biến thành cao. Những miếng cao có màu cánh dán, vuông vắn như bao diêm. Tôi nghe được tiếng từ rừ từ rừ yếu ớt, phát ra từ trong bên trong lớp vỏ diêm. Tôi cứ buồn. Cái nhớ bốc ra như hơi nóng. Hơi nóng có mùi tanh cao ngựa. Mùi tanh bay ra từ góc chợ ngày xưa ấy. Sự cô đơn trong tôi bò từ chỏm xương cụt, lên đến huyệt đỉnh đầu. Ấy là lúc âm dương đương say buổi chợ. Người đông cứng như đổ bê tông, phải dùng kế gì để thoát hiểm. Bỗng có tiếng kêu. Ớ các ông anh ơi! Ở phố Nhả Nhùng, người ta đang thiến gà để tết. Đông ngọc kê lắm. Thế là chợ vãn non nửa. Chỉ còn đàn bà với lũ trẻ con khum khum hai tay múc gió.

Dzương eng, tục thăm gái đẻ

Dzương eng trong tiếng Tày Nùng, nghĩa là đi thăm trẻ sơ sinh, hay thăm gái đẻ. Mẹ tròn con vuông, sinh ra con người là một điều kỳ diệu. Đi thăm điều kỳ diệu, đây là một công việc hệ trọng.

Sự kiện đại vui vẻ này không chỉ thuộc về họ nhà gái, mà với cả gia tộc họ nhà trai. Niềm vui lớn ấy lây sang hàng xóm, kể cả người dưng khách lạ đang đi qua đường. Vẻ mặt ai cũng nhóoc nhéc một nụ cười ruồi. Đấy là lúc người người như muôn hoa thúc thắc.

Niềm vui đầy phè tràn ra, làm nở nang bông lúa dưới ruộng, bắp ngô trên rẫy, con cá trong sông suối trong ao hồ. Năm đó nhà này, họ có cháu bế. Ai cũng bảo rằng đấy là cục vàng rơi xuống từ trời. Và năm đó tự dưng đỏ au cả ngói lợp trên mái. Nhà có ba mươi sáu cây cột gỗ nghiến, chạm tay vào cột nào cũng phát ra tiếng kêu loong coong, tựa hồ lục lạc.

Kìa là nắng non. Nắng tươi non lọt qua khe liếp, qua cửa trăng. Nắng tươi non chiếu nghiêng nghiêng, soi chênh chếch lọt vào hẳn trong lòng nhà. Năng tươi non vào sưởi ấm căn buồng gái đẻ. Làm những bụi bay lên bay xuống. Mắt người nhìn theo trầm bổng, cứ ngỡ rằng có vàng bạc thật.

Đã ba chục năm rồi, tôi còn nhớ như in hồi mẹ tôi mừng cô cháu gái đầu lòng như thế nào. Bà đã dành cả một năm trời chăm bẵm đàn gà vịt ngan ngỗng và lũ lợn. Nào cám bã. Nào nước nôi. Nào củi đóm tất tần tật đều tự tay mình làm. Bà bảo rằng tôi nuôi những cái này là để đón cháu. Bất kể trai hay gái. Nhưng cháu gái thì càng mừng hơn. Người Kinh có câu “ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng” là gì. Nghe đâu người Tày mình cũng có câu “lục slao cốc gjộc khẩu têm” con gái đầu cối gạo đầy đó sao.

Nhà có cô con gái như cục điều hòa thời tiết nóng lạnh. Cô con gái cưng như cây hoa biết đi, nó làm tiêu tan mọi nỗi nhọc nhằn buồn bực trong lòng người cha. Lên chín mười nó đã biết đỡ đần cơm nước, giặt giũ, chợ búa cho mẹ. Bà tủm tỉm nói rằng khi tôi đụng chân đụng tay tới đâu, nơi đó tưng bừng như ngày hội. Từ củi lửa đến lũ xúc vật, chúng nó cũng sướng rơn như người. Chúng nhao nhao đòi ăn đòi lớn để sinh ra lắm mỡ với nhiều nạc. Chúng còn cãi nhau om sòm mày béo dùng làm món hầm. Tao dày nạc làm món khau nhục. Gầy như mày thì chỉ có nướng trên than hoa cho nó ròn, để “khéch” người ta nhấm rượu.

Người Tày Nùng có tục dzương eng từ thời loài người, biết kính trọng người đẻ. Họ coi đó là ngày quan trọng nhất trong đời. Sau khi người sản phụ sinh đứa con, thường là con đầu lòng được vài ngày, họ hàng bên ngoại nhằm vào đúng các ngày đại cát, đại an lại gặp cung hồng loan, thiên hỷ, văn xương, văn khúc… trong tháng để đến thăm cháu. Họ sắm sửa quà cáp mang sang tặng cho nụ hoa đầu đời. Quà cáp gồm một đôi gà mái tơ hoặc trống choai, ba đến năm ống gạo nếp cái hoa vàng, một cái địu thổ cẩm, một cái nôi đan bằng tre, có mắt hình lục giác, nan tre lên màu vàng nắng. Mỗi bà tòong tèng một gánh làm vui. Người gánh gà. Người gánh gạo. Người gánh rượu. Người mang nôi. Họ rì rầm chân sau theo chân trước, bước nhịp nhàng về nhà gái đẻ. Họ cố tình dùng dằng bước đi thật chậm. Đi thật chậm để cảm nhận cái ấm nóng nồng nàn của hơi đất, của khí trời, của tình người nơi đó.

Bà nào cũng diện bộ cánh mới tinh, còn thơm nguyên mùi chàm hồ. Mỗi khi nhấc chân lên, đặt hài xuống, tạo ra tiếng sột soạt phát ra từ váy áo, từ thắt lưng. Những âm thanh làm rộn ràng, ríu ríu trên con đường đất êm êm lá cỏ. Họ vừa đi vừa trò chuyện. Bà nào cũng bỏm bẻm nhai trầu. Cung đường bay ra mùi trầu cay, có lẫn mùi chàm ấm. Làm cho những người đi sau cứ hít lấy hít để, cái mùi hạnh phúc no ấm ấy mãi. Đến con dế con giun cũng ngóc đầu lên nhìn ngó. Con trâu con bò đang gặm cỏ cũng giỏng đôi tai lên lim dim nghe ngóng. Khi ấy họ hàng bên nội, nhìn thấy bên nhà ngoại đang rồng rắn từ xa. Ai đó liền cất tiếng quát tháo mà như hò reo: “Chuẩn bị khăn bông hoa lau mặt, chậu nước rửa chân cho khách. Nước rửa chân phải rắc thêm mấy cánh hoa bjooc lỏong cho thơm. Nhanh tay lên chứ! Kìa! Phải dùng khăn mới. Dẹp hết đồ cũ đi. Ầy dà!”.

Không khí bắt đầu náo nhiệt hẳn lên. Chiếu hoa trải khắp nhà. Mâm bát đã sắp xong. Đồ ăn thức uống luôn sẵn sàng. Chỉ còn chờ nồi canh xin thang đang âm ỷ sôi. Đủ khách ngồi vào mâm là người ta múc canh vào bát, trần thêm rau cải xoong, rắc thêm tý hạt tiêu bắc. Thế là thành món canh đặc sản. Thứ canh đó ở vùng quê tôi mới có. Quả thật canh xin thang mà thiếu rau cải xoong thì không có gì để khoe cùng các bạn. Cải xoong phải nuôi trồng nơi có nguồn nước sạch, không bị nhiễm bẩn và tiết trời thật lạnh. Lạnh đến mức cưa tai rơi ra mà người ta không hề nhận biết. Cải xoong là thứ rau khí khái. Nó chỉ thích hợp môi trường tận sạch và tâm hồn người tận đẹp chăm bẵm. Thực ra, nó chỉ là thứ canh thịt gà tẩm nghệ non với gừng già, lòng phèo, gan, tiết lợn, pha một chút rượu trắng, một chút hương hoa hồi, một chút thảo quả. Nói tóm lại là món canh hầm bà lằng. Nhưng dưới bàn tay đầu bếp người làng Hiếu Lễ thì mới ngon được.

Tục Dzương eng ngày nay đã có pha sắc màu đời mới. Không còn cảnh các bà mặc áo chàm thướt tha, nối đuôi nhau túc tắc đi thành đoàn. Thay vào đó họ đi bằng xe máy, mô tô, thậm chí ô tô đậu dưới sàn nhà vài ba bốn chiếc. Áo quần đủ màu sắc, các kiểu, các cỡ. Quà cáp không còn là gà thiến với gạo nếp nữa. Thay vào đó bằng phong bì một tờ xanh. Hộp quà nào cũng gói kín trong giấy bóng kính. Rượu Tây với thuốc lá ngoại xếp chồng trên ban thờ. Các anh chị tôi nhìn các thứ mừng cho cháu bé cứ sáng choang, thơm phức và hoàn toàn lạ lẫm. Nhưng họ chỉ lặng lẽ nhìn mà không mở miệng. Tôi đọc được tiếng lòng của họ. Thấy nỗi buồn ngấm qua da thịt. Buồn đưa lên ánh mắt như người lạc loài.

Người hôm nay khác với ngày xưa. Ngày xưa chẳng giàu như bây giờ. Nhưng người với người không xa xôi cách mặt. Ta cùng ngồi chung mâm cơm nhưng cách ăn đã khác lắm rồi. Người bây giờ chê miếng xi thang thái dày lắm mỡ. Miếng nào cũng nặng bằng bàn tay thợ mộc. Người bây giờ chê cơm nấu khô, nhai như nhai giẻ rách, không nuốt nổi xuống họng. Họ chỉ dùng đũa khẽ gẩy vài cọng rau thơm, nhai nhóp nhép một hồi lấy lệ, dối lòng người nhà. Người bây giờ khó ngồi xếp bằng. Một bụng mỡ, đứng ở đâu cũng kêu rằng sao tôi quá khổ.

Thôi thì, lấy con người làm trọng. Mừng cháu bé, chúng ta đã là người của một nhà. Còn mọi cái ăn, cái mừng, cái giàu nghèo tự nó sẽ thoáng qua tan nhanh trong chớp mắt. Nghoảnh lại, nhìn chỉ thấy sau lưng mình toàn tiếng cười ha ha rơi rơi xuống đất. Tiếng cười râm ran truyền đi lớp này đè lên lớp khác. Mừng một con người vừa được chào đời, lớn hơn quả núi.

Ngồi ghế rơm, uống trà “khỉ nổc”

Đời mưa nắng của tôi đã ghé qua không biết bao nhiêu thứ loại ghế được dùng làm chỗ ngồi. Nhưng tôi không thể nào quên những chiếc ghế bện bằng rơm ở nơi quê nhà. Những chiếc ghế rơm bình dân quê mùa ấy cứ ám ảnh tôi gần suốt một đời người. Nhìn thấy chúng quây quần bên bếp lửa như một lũ nhóc. Những chiếc ghế làm ấm những ngày đông tháng giá, làm mát những ngày hè nóng nực. Hình như chúng cũng biết uống trà và hóng hớt chuyện của những người lớn.

Đó là chiếc ghế được bện bằng những sợi rơm vàng óng đã phơi đủ ba sương. Rơm là thứ vật liệu rẻ tiền mau hỏng. Chủ yếu người nông dân quê tôi dùng nó làm thức ăn dự trữ cho trâu bò. Sau khi tuốt hết lúa, bỏ lại rơm, bà con buộc chúng lại, rồi đặt lỏng chơ mỗi nơi một đứa. Chỉ việc cắp nách lấy vài ba thằng mang về bện làm ghế ngồi.

Kích cỡ ghế nhỏ, to, cao, thấp tùy thích lòng người chế tạo. Ghế rơm thường có hình trụ tròn. Cao từ mười lăm đến hai mươi phân. Thông thường chỉ to bằng cỡ một chiếc xoong nhôm, nấu cho đủ sáu bảy miệng ăn. Còn có loại ghế (đúng ra gọi bằng đệm rơm là chính xác nhất) dùng chung cho sinh hoạt cộng đồng. Ghế bện hình chữ nhật, có xương chịu lực và liên kết bằng nan tre. Loại ghế này thường để cố định, đặt vây xung quanh bếp lửa, dùng làm nơi tiếp khách.

Với người Tày Nùng chúng tôi, bếp lửa không chỉ đun nấu mà còn làm phòng khách. Nhất là vào những ngày mùa đông mưa rét cắt da cắt thịt. Phòng khách kín mít những lưng là lưng. Lưng nào cũng choàng áo bông, áo len to sù, đầu chiếc mũ nồi. Chiếc nào cũng lên nước bồ hóng. Người ngồi đối diện người, nhìn nhau qua ngọn lửa hồng mà bày ra khối chuyện khóc cười. Họ xổ hết ruột gan ra mà tâm sự, có tiếng củi lép bép vỗ vào tán thưởng, lại còn có cả ánh lửa liếm ngang qua mặt người như dát vàng.

Lửa cho sức ấm nóng, nồng nàn và cho nguồn ánh sáng, để nhìn thấu câu chuyện mà người vừa mới kể. Lửa chiếu sáng làm cho thân xác con người thêm phần sinh động. Lửa khi đậm, khi nhạt, lúc sáng tỏ, lúc mơ màng. Lửa đậu trên tóc, trượt xuống hai bờ vai, tạo thành những đường viền óng ánh sáng. Người chưa đẹp, mong đẹp dần dần trong mắt bạn. Người đẹp rồi sẽ được đẹp thêm là nhờ vào ánh lửa lung leng như ma trơi.

Từ lâu, lửa đã được người dân quê tôi ví như người mẹ. Thẩu bấu tấng fầy,đây bấu tấng pỏ mẻ, nghĩa là ấm áp không gì bằng lửa, lòng tốt không gì sánh bằng tình mẹ. Lửa ấy lấy từ than củi. Mỗi gộc củi to như bắp đùi, dài đến hàng sải. Chúng nó nằm chềnh ềnh choán cả lối đi. Chẳng kể ngày hay đêm, lửa cứ líu nhíu vào nhau mà thở, than cứ âm ỉ nhìn vào nhau mà hồng. Cho dù mưa tuyết rơi trắng xóa cả trời đất rừng cây núi đá, lạnh xuống đến ba bốn độ âm. Nhưng trong nhà vẫn đấy ắp tiếng nói tiếng cười giòn tan, ấm áp. Những bàn tay mập mạp, hay nhăn nheo đều hồng hào khi đan hơ trên than đỏ. Có thể nhìn thấy cả những đốt xương ngón tay như đọc phim âm bản.

Còn những chiếc ghế rơm trở thành vật bất ly thân. Mỗi người một ghế. Nhiều người ngồi sát lại với nhau cho ấm. Người ta ngồi hàng buổi mà không thấy mỏi mông mỏi cổ. Miệng ngậm cọng rơm khô nói cả ngày mà vẫn thấy thòm thèm. Rượu mời khách pón pén vào môi cười, tràn cả ra ghế rơm.

Có nhiều lúc, ghế say chỉ vì rượu vui rơi vãi. Rượu vui làm chúng nó quay lơ lăn ra ngủ. Ngủ líp liền hai ngày ba đêm, ghế rơm như người không màng cơm nước. Cái mùi rượu tưới lên rơm, gợi nhớ biết bao những ngày còn thơ bé. Không nói đến thì thôi ,nhắc lại chuyện này tự dưng tôi muốn bỏ về nhà ngay tức khắc. Tôi sẽ lăn vào rơm mà ngủ. Ngủ truy lĩnh bốn mươi năm trời, tôi ăn nằm nơi đất khách quê người.

Nhớ ngày bà nội tôi còn sống, cứ đến ngày thu lúa từ ngoài đồng về, là bà lại chăm chắm chọn những cọng rơm vàng có độ dài vừa ý, mang ra phơi đủ ba sương. Rơm phơi sương cho độ dai, độ bền và độ chắc. Hầu như người dân quê tôi ai cũng biết bện ghế để ngồi. Mỗi năm một lần bện ghế. Nên bộ tân chiên ghế rơm lúc nào cũng mới và thơm phức. Chỉ nhìn người già đan bện một lần, người có đôi mắt thường cũng bắt chước được ngay. Nó y hệt như các em tôi một thời tết tóc đuôi sam, rất hay phổ biến vào những năm sáu tám, bảy mươi của thế kỷ trước. Sau đó cuộn chúng lại như xúc vải, làm thành một khối rơm đặc. Đó chính là chiếc ghế rơm độc đáo của người Tày Nùng. Công đoạn cuối cùng là chốt gim lại bằng một đoạn gỗ cán liềm,hoặc một đoạn tre.Vậy là hoàn chỉnh một chiếc ghế dùng để ngồi. Còn có người đã tiện thể dùng ghế rơm thay gối, làm một giấc trưa khò khứt ngon lành. Nói như thế để các bạn dễ hình dung công đoạn chế tác ghế rơm cực kỳ đơn giản. Và nó tiện ích như thế nào trong sinh hoạt đời sống thường ngày của cư dân Tày Nùng.

Khác khứa vừa bước chân vào cửa liền được chủ nhà dắt tay mời vào ghế ngồi. Họ khoanh hai chân, vo lại cho thật tròn. Câu chuyện bắt đầu nóng lên, không đợi chủ nhà chúm môi gọi than ơi hồng nhanh lên nhé. Nước trên kiềng ba lá sôi năm lần bảy lượt. Chủ nhà nghiêng ấm pha trà mời khách.

Trà này gọi là trà khỉ nổc tiếng Tày nghĩa là trà phân chim. Đấy là một loại trà rất hiếm thấy trên nhiều vùng đất mà tôi từng đi qua. Gọi là trà phân chim là bởi nó có từ thời hòn đá biết ngồi. Nhờ những bầy chim én di trú mang theo giống cây này từ xa về. Nghe nói đó là giống cây mọc vùng chân núi Everest xa xôi. Và khi chim đại tiện, vô tình chúng tra hạt xuống đất. Vài tháng sau, cho một giống cây giây leo bốn mùa xanh um trên vách đá. Sáng sương giá, chiều mưa tuyết, cả hàng tháng trời chịu đựng mà nó vẫn cứ vui tươi như gái nhà lành.

Từ xa xưa, ông cha chúng tôi lên núi hái nó về sao tẩm qua loa, dùng nó thay trà mạn uống hàng ngày. Đó là một thứ trà khi uống thấy nó nhàn nhạt, nuốt xuống họng nó mới tiết ra vị ngọt. Ngọt lưu lại có khi được cả một ngày. Hầu như người dân quê tôi không mấy khi sôi bụng, do ăn phải thức ăn lạ, thức ăn ôi thiu. Ai lỡ quá chén, chỉ cần làm một hơi trà phân chim, mấy phút sau là tỉnh hẳn.

Uống trà này, ngày đông cho da không bị khô nẻ. Uống tới đâu ấm nóng râm ran tới đó. Uống vào những ngày hè nóng nực, lại cho ta cảm giác mát từ trong ruột mát ra. Trẻ con, người lớn, người già không bị rôm sảy, ung nhọt. Trai thanh, gái nụ uống trà này vào, hát lượn thâu đêm suốt sáng mà không bị khản cổ mất tiếng.

Đấy là thức uống sạch và lành, hoàn toàn không có độc tố gây hại cho sức khỏe.

Mùi trà phân chim quyện với hương thơm ngát của những chiếc ghế rơm và đặc biệt mùi lửa từ thân cây gỗ nghiến, làm nên một không gian đặc biệt Tày.

Đã khá lâu, không thấy người quê tôi dùng trà này nữa. Bây giờ ở nhà tôi mọi người sành uống trà móc câu đánh mốc. Trà Tân Cương thứ thiệt. Trà Bảo Lộc Lâm Đồng, trà Atiso túi lọc, do hai anh em nhạc sỹ nhà họ Dương gửi từ Đà Lạt ra biếu. Thậm chí Trà Cung Đình đóng hộp, trà Long Tỉnh, Trảm Mã trà từ bên kia biên giới mang sang. Khi uống các loại trà này, tôi không còn cảm giác đây là nơi sinh ra mình nữa. Buồn!

Rất may là những chiếc ghế rơm vẫn còn đó. Chưa bị đồ mộc kiểu cách vecni hóa. Không hiểu sao tôi rất hay dị ứng với các loại bàn ghế uốn éo chạm trổ cầu kỳ. Nhất là các loại ghế bọc da, với tôi chẳng hề thấy quý phái sang trọng. Ngược lại tôi chỉ thấy nó toát ra vẻ lạnh lùng và khinh người như rác.

Còn ghế rơm do tự mình làm nên có dấu ấn bàn tay. Người khéo, bện chiếc ghế vừa chắc lại vừa đẹp. Người vụng bện, nhìn chiếc ghế như khăn xếp nát. Người nóng tính nhìn chiếc ghế ngùn ngụt lửa bốc. Người có máu hàn cho chiếc ghế từ rừ, như vừa được kéo lên từ ruột đất.

Bà nội tôi đã ngoài tám mươi, không phải làm bất cứ việc gì trong nhà hay ngoài đồng. Nên bà ngồi cả ngày bện ghế biếu cho cả xóm bốn năm chục người lớn bé. Chiếc ghế nào bà cũng chăm chút tỷ mẩn nên trông rất vào mắt.

Mãi những năm gần đây người làng tôi vẫn nhắc, hễ nhìn thấy ghế rơm ngồi uống trà khỉ nổc ở đâu là lòng đầy thương nhớ bà Viên.

Bà nội tôi hay ngồi trên chiếc ghế rơm, lưng tựa cửa, mắt nhìn ra cánh đồng làng hàng giờ. Tôi trông bà như một bức tượng bằng đá đen nguyên khối. Bà tôi ngóng đợi lúa mùa. Còn lúa mùa thì quạt mát, quạt xanh rười rượi lên mái tóc trắng xóa cho bà. Hình ảnh đó đã in đậm trong tôi năm sáu chục năm nay, lúc nào cũng tươi như mới.

Advertisements