Y PHƯƠNG

Tháng giêng
tháng giêng
một vòng dao quắm (III)

Lão Mòn đi đâu rồi?

Hình như không nhầm, tôi chả có họ hàng gì với lão. Mặc dù tôi gọi mẹ của lão bằng dì. Dì đại bác. Dì tên lửa xuyên đại dương. Chứ không phải dì súng kíp với súng lục. Cho đến bây giờ tôi vẫn không biết tên tục của bà ấy.

Mòn là tên cúng cơm. Mòn tiếng Nùng Giang nghĩa là tròn. Tôi chợt nghĩ, giá mà ngày xưa bố mẹ đặt cho lão là Lã Quốc Tròn, ấn tượng biết bao. Thật oách. Bản thân chữ Quốc, trong tiếng Hán, mang hình vuông. Vuông đi với tròn, còn gì bằng. Một sự hài hòa lý tưởng. Không những hài hòa về dáng dấp, đường nét, mà nó còn nói lên ý nghĩa tốt đẹp cuộc đời này. Mẹ tròn con vuông. Cuộc đời Mòn toàn bánh. Bánh dày với bánh chưng. Những vật quý chỉ dùng trong cúng lễ. Quá hay! Quá chữ nghĩa! Quá thâm thúy! …

Không biết sinh năm nào, nhưng lão từng tham gia đánh Pháp. Cùng với người anh rể của tôi, trong một trung đoàn. Trung đoàn mang tên Con Hùm Xám, lừng lẫy một thời. Họ đã trực tiếp cầm súng chiến đấu và chiến thắng hai binh đoàn Lepage, Charton. Trên đèo Bông Lau lịch sử, ngày nay còn những dấu tích.

Với bất cứ ai, lão đều xưng em. Em với với người lớn đã đành. Em với đứa con nít, mới là kỳ cục. Cả dân phố huyện Co Xàu, từ già đến trẻ, ai ai cũng đều nhẵn mặt lão. Quanh năm đầu trần, chân đất, nói cục. Cắm đầu mà đi. Cúi đầu mà nhìn. Nghiêng đầu mà nghe. Ngửa đầu mà ngủ. Năm, sáu mươi tuổi đầu rồi mà “em” vẫn chửa biết gì. Hay là cái ấy của “em” bị trục trặc. Bọn bạn tôi thằng Phoóng, thằng Soóng, thằng Hoóng, thằng Moóng… quyết tâm khám phá bằng được, cái sự thật mà Mòn giấu kín kia. Rồi chúng nó sẽ cho mọi người phố Co Xàu này hết thắc mắc.

Trong một lần, lão đi tắm trong hang Bo Thang. Bọn chúng đã rình sẵn. Lão Mòn trông trước, ngó sau, không thấy ai. Lão tụt quần dài, rồi đến quần đùi. Lão vo tròn thành một nắm, đặt lên đỉnh đầu. Lão thận trọng đưa cả hai chân lúng lắng, lội thử xuống nguồn nước lạnh. Người lão trắng như một con lợn cạo.

Thằng Ú nhòm thật kỹ, xem các bộ phận trên người lão. Rồi nó dùng súng cao su, bình tĩnh làm một nhát “tẹt”, trúng đầu con rùa. Làm lão ta đau điếng. Mòn la hét toáng lên trong vòm hang đá. Vòm hang tạo ra âm thanh cộng hưởng. Tiếng hét của lão nghe rùng rợn như sấm đầu mùa. Lão dùng hai tay be chặt lấy của quý, rồi tồng ngồng chạy vọt ra cửa hang đá. Lão lom khom trong bụi cây lá đỏ mặc quần. Chao ôi, cái con giống mới đẹp làm sao. Nó to và tươi như củ cà tím. Nó hồng hào, sáng bóng và còn nguyên cái nắp bút. Những đường máu chạy ngoằn ngoèo bám vào thân củ cà, trông như những con rắn bò. Còn đám rong rêu non xanh một cách dễ thương. Giời ạ! Nó như cỏ rối sau mưa. Gần sáu mươi rồi còn gì nữa, lão chưa một lần lâm trận. Hóa ra Mòn vẫn đương trai. Đin phạ ơi! Trời đất ạ!

Người ta hỏi, tại sao Mòn không lấy vợ. Mòn gãi tai gãi đầu xấu hổ. Lão làm một nhát Pí! Raẳm rooi! Câu này tôi chịu, không thể dịch ra tiếng Kinh được. Nghĩa là… xấu lắm, bẩn tưởi lắm. Tạm hiểu nó như thế. Nhưng bạn phải được nghe trực tiếp bằng tiếng Tày, mới sướng. Chữ pí phải chúm môi lại, nhổ một bãi thật mạnh, rồi mới đánh “chịt” đóng lại. Nó tỏ rõ thái độ coi thường, chả ra gì. Ai mà làm cái ấy thì thật là kinh tởm. Lấy vợ mà kinh tởm á Mòn? Thích bỏ xừ đấy Mòn à. Mày không tin, cứ thử một lần xem sao. Há há há hú hú hú !!! Thế là Mòn ù té chạy một mạch về hang. Đó làm nơi cư trú thường xuyên, kể từ ngày lão xuất ngũ, phục viên đến giờ. Một địa chỉ hấp dẫn trẻ con phố huyện.

Cái vòm hang trong lòng núi Phja Phủ, ấm áp khi đông về, mát rượi khi hè tới. Dù lúc này ngoài trời, có thể nóng tới 39 – 40 độ. Cái sự mát ấy không thể tả được. Chỉ những ai một lần đến đó, thì mới biết. Nó phê. Nó đê mê. Nó sướng từ ruột hang lan tỏa ra. Hơi mát phủ từ đỉnh đầu, dìu dịu rót xuống đến gan bàn chân. Mát từ khe đá, hõm đá đến chứ chẳng vội vàng mát. Khe khẽ mát. Khe khẽ sướng. Mặc một áo, Mòn không chịu được. Lão phải khoác thêm cái đại cán thu đông, từ hồi còn đeo lon trung sỹ. Tuy nó sờn nhưng đầy ắp kỷ niệm. Mòn không bỏ áo bao giờ.

Thế giới riêng của Mòn gồm một chiếc chăn chàm đã rách. Một manh chiếu đan bằng cật cây giang. Một cái nồi đất. Một bẳng dùng để đựng nước. Một cái bát ăn, màu vàng khè, vừa thô vừa nặng. Một cái giường tự chế, bằng những cây đòn càn, mà người trong lũng đi bán củi, bỏ lại. Mòn ta khéo tay và ngăn nắp. Đồ dùng dưới bàn tay của Mòn sắp đặt, thật gọn gàng và khá đẹp mắt. Chỗ nào cũng được quét tước, lau chùi sạch sẽ. Lòng hang đủ rộng, để Mòn làm nơi nấu nướng, nơi phơi phóng, nơi vệ sinh. Bạn của Mòn là những chú chim tím biếc. Chúng làm tổ trên vách đá cheo leo. Cứ sáng ra, Mòn lại gọi: Chúng mày dậy sớm nhỉ. Crich tích tích. Đêm qua tao chả ngủ được tẹo nào. Crich tích thích thích. Thích gì mà thích, lát nữa tao còn phải đi quét chợ. Mệt ón bã cả người đây này. À mà không làm thì biết lấy mà gì đút vào miệng, chúng mày nhỉ. Crich túc tắc túc tích.

Bạn của Mòn còn có thêm mấy ả bướm vàng, bướm trắng, bướm xanh. Chúng nó đậu ở khắp nơi. Con trên chăn rách. Con trên giá đũa. Con trên gối làm bằng gộc tre. Con trên đôi hài xảo. Mày có cả một thế giới thần tiên đấy Mòn ạ. Đàn bướm cứ rập rờn khép mở, đẹp như trong vườn treo Babylon. Nhưng hễ thấy bóng dáng Mòn từ xa, là bọn bướm dạt hết sang một bên, nấp vào trong lùm lá. Chúng ti hí mắt dòm xem, Mòn đang làm gì. A! hôm nay tươm quá Mòn! Cả một thu sáu giỏ đan tre đầy thịt. Mòn đổ ra ang chậu sành rửa thật sạch, sau đó mới tẩm ướp gia vị, cho thêm chút rượu trắng. Lão bắt đầu chụm củi, nổi lửa. Mòn khe khẽ hát, lửa cũng bắt đầu len lén liếm vào đầu mẩu củi. Mòn hay bịa ra nhiều bài hát lắm “Miếng này bá Hanh cho…ái dà dà .. Miếng kia chú Đô biếu a nò… ăn vào thì bụng tó tò to a ríu! a rối! hầy dà…

Lịch làm việc của Mòn kín cả tuần, kể cả ngày lễ, ngày chủ nhật (Kinh! Nghe cứ như Mòn là ông chủ tịch nào vậy!). Dạo này dân phủ Trùng rửng mỡ đua đòi. Hết phở vịt sáng, đến phở xá xíu đêm. Hết bánh bao nhân thịt nấm, đến bánh cuốn trứng. Cóoc mò, khẩu sli, bánh khảo chả mấy ai ăn nữa. Hàng thịt, hàng rau, hàng hoa quả… lúc nào cũng nườm nượp những đầu đen chen chân trắng, chờ đến lượt trả tiền, cầm gói mang về.

Ngày nay, người ta không dùng lá toong rản để gói hàng nữa, cho vào túi nilon là xong. Cái giống nilon phật phờ xanh đỏ tím vàng, mới trông thật bắt mắt. Cứ nghĩ rằng nó sạch, nó đẹp với nó lịch sự. Có ngờ đâu những chiếc túi được tái chế từ những hợp chất thải loại chứa đầy độc tố. Ngày xưa, rác chợ toàn lá chuối, lá toong rản, lá nghệ, lá cây quả vả… chằng buộc bằng rơm phơi khô, bằng lạt giang, bằng dây khau dền, khau tải lấy từ rừng về. Khi đốt rác, Mòn không phải tránh xa, dùng tay bịt hai lỗ mũi như bây giờ. Rác ngày nay cũng tái sinh. Rác cha truyền con nối. Rác lâu tan. Rác bền chắc như lòng tham thô bỉ. Dù bị đất vùi lấp, chúng cũng không bao giờ chịu hóa. Nếu phải mang rác ra đốt, trời ơi, khói đen như mực. Cả bầu trời đặc màu khói rác. Chỉ đứng gần một lúc là nhức đầu sổ mũi buồn nôn bởi mùi khói. Thế giới quanh ta toàn đồ giả. Người giả. Mòn buồn bã, ngày càng ít nói.

Lâu không thấy Mòn. Hỏi ra mới biết lão đã đi cả năm nay rồi. Trước khi lên đường về mường trời, chiều chiều Mòn hay lên núi Phja Phủ nhìn xuống phố chợ. Lão bắc loa cuốn bằng mo tre, gọi xuống hàng phố. “A lố a lồ! Nếu ngô thị trấn bị mất trộm, thì chỉ có mấy thằng nghiện lấy thôi!” Tiếng loa nghe rè và yếu ớt. Sau vài ba phiên chợ, người dân phố chợ Co Xàu không còn nhìn thấy Mòn nữa.

Từ ngày không còn lão Mòn ló xó đi trên đường phố, chẳng riêng gì tôi, có khá nhiều người cảm thấy hao hụt, thiêu thiếu. Nhìn vào đâu cũng nhớ Mòn. Mòn cười phớ lớ như thác. Mòn nói phá lá như chiêng. Mòn sống thật và mềm như đất sét Nà Gọn. Ai bảo Mòn làm ngói, thì Mòn làm ngói. Ai khiến Mòn làm chum, làm lọ, hay bất cứ cái gì đều được hết. Nhưng nếu có ai bắt Mòn làm thằng lưu manh. Mòn đứng dạng háng, chỉ tay, chửi một câu tục tĩu: “Tao mà làm lưu manh á! Ăn thu vầy câu ní! (Cái đầu b…tao đây này!)”

Thanh minh trong tiết tháng Ba

Sau cái chết của mụ phù thủy Dzạ Dìn, người dân quê tôi đã chọn ngày mồng ba tháng ba hàng năm làm tết Tảo mộ. Có nơi gọi tết Thanh minh. Đó là ngày mở cửa mồ. Người dương được gặp lại người âm, trong niềm nhớ thương vô hạn. Người âm hiện hồn lên phù hộ độ trì, ban bố phúc lộc cho người dương. Hồn người âm khi là một luồng gió quẩn. Khi là một con bướm vàng. Khi là con ong đất. Khi là con kiến nâu. Khi là làn khói trắng cuộn thành hình ống. Tiếng người âm trầm và đục. Tính tình người âm hay nóng nảy, cáu gắt. Tóc người âm nằm vắt trên ngọn cây. Vào ngày này, người âm hiện về đòi ăn xôi đăm đeng, đòi quần áo mới, đòi tiền vàng, đòi cạo râu cắt tóc. Con cháu tự biết mà phục vụ người âm.

Tết Tảo mộ diễn ra giữa tiết trời ấm áp, khí núi thanh sạch, lòng người thanh thản. Mùa màng đang giữa thì thư thả. Vào cữ này, gió mùa xuân hây hẩy vừa đi. Nắng mùa hè nứng nóng đang đến gần. Bóng người thân nghiêng nghiêng vào đến ngõ.

Con cháu dù đi làm ăn nơi xa, cũng lặn lội tìm về nguồn cội. Tết Nguyên đán, giỗ chạp hoặc cưới xin, đầy tháng… vì mải bận công việc, không thu xếp về được. Chẳng một ai phàn nàn ta thán. Nở một nụ cười thông cảm. Thế là xong. Nhưng đến ngày Tảo mộ vắng mặt, lập tức bị người làng cười chê. Người anh em trong họ mạc trách mắng. Người trong nhà bực tức và giận giữ. Cả năm có một ngày gặp lại Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thế mà chẳng thấy tăm hơi đâu.

Vào thời nào cũng thế, cỗ tết Tảo mộ không thể thiếu xôi ngũ sắc: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen. Dân trong vùng tôi gọi xôi đó là “khẩu nua đăm đeng”. Đó là sản vật cao quý, dùng để cúng tiến tổ tiên trong ngày tết Tảo mộ.

Để chuẩn bị cho chõ xôi đặc biệt này, họ phải lên rừng tìm lá. Có thứ lá chăm che đem giã lấy nước, cho màu xanh cổ vịt. Có thứ hoa bjooc phón cho nước màu vàng cam. Có thứ củ cây ngô đồng, cho màu đỏ tiết dê. Nhưng đặc biệt nhất là màu lá xau xau. Thứ lá cho nước màu đen nhưng nhức. Nó tỏa ra mùi thơm như gây nghiện. Ngửi một lần, nhớ đứng nhớ ngồi. Ngửi hai ba lần, muốn làm dâu làm rể. Ngửi bốn năm lần, có con bế con bồng.

Gạo nếp cái hoa vàng, đem vào ngâm nước lá xau xau, cùng với con dao cái cuốc, cho xôi thêm bền màu. Khi chõ xôi bốc khói, một mùi thơm đặc trưng bay ra. Hương thơm làm cồn cào cả mười hai hàng cột kèo. Nước miếng tứa ra đầy miệng.
Bánh gai làm bằng lá gai là chủ yếu. Nhưng có người lấy rau ngải cứu, thay cho lá gai. Bánh xanh như nước Khưa Riềng. Lại có người làm bằng những thứ rau đồng tập tàng, hoang dại. Bánh gai cho màu xanh bách diệp. Khi ăn, như đang nhai cả một cánh đồng.

Còn bánh dày nhân trứng kiến. Loại bánh mà tôi chưa từng thấy ở đâu có. Trứng kiến lấy về làm sạch cho vào chõ hấp chín. Bỏ trứng ra cho vào chảo xào mỡ gà. Mỡ gà cho mùi thơm, ngậy. Còn trứng kiến có màu óng vàng. Khi nặn thành bánh, người ta cho trứng làm nhân. Khi ăn thấy bùi và có cảm giác có nóng đang bò loang ra lên mặt. Thúc hơi cay của mùi loài kiến lên sống mũi.

Còn món thịt lợn sữa quay nhồi lá mác mật. Đây là món công phu nhất, tỷ mỷ nhất. Phải chọn được những chú lợn sữa, nặng chừng chục cân trở lại. Trước khi thịt, phải cho chú ăn toàn ngô rang. Ăn liên tục khoảng hai tuần. Khi giết mổ, tuyệt đối không được rửa bằng nước lã. Mà phải lau rửa sạch bằng rượu ngô với giấy bản. Làm lòng xong, nhồi lá mác mật chật bụng, lấy kim chỉ khâu lại. Đem chú lên giàn than hoa quay. Quay chầm chậm. Quay thong thả. Vừa quay vừa phết mật ong trộn với nước gừng già lên da. Quay từ sáng đến chiều. Quay tới khi bì giòn tan như bánh đa mới được.

Rồi tới món cá trầm hương rán vàng. Lựa những con cá tươi ngon chắc thịt. Rán sao cho cá chín dần từ đuôi đến mang. Mình cá chín rồi, mà mắt vẫn chớp thao láo. Mang cá vẫn thở nhịp nhàng.

Còn đây là món đậu phụ nhồi thịt. Thịt ba chỉ băm nhỏ, vo viên, nhồi vào miếng đậu chao. Món này đơn giản, dễ làm.

Chỉ có món gà trống thiến, luộc bằng đinh, là khá tinh diệu. Cho gà làm sạch vào nồi. Chỉ đổ vào khoảng một chén nước. Thả vào đấy một chiếc đinh sắt. Đun nhỏ lửa. Nhưng mất nhiều thời gian. Khi thịt nó chín, từ da đến xương, con gà không hề biến dạng. Từ móng vuốt đến mào vẫn tươi nguyên như nó còn đang gáy.

Măng vầu hấp thịt nạc, trộn nấm hương. Đây cũng là một món khá đặc biệt. Phải tìm những củ măng chưa đâm thủng đất. Đúng ra phải gọi là măng đang thai. Măng chưa chào đời. Chưa mở mắt. Tìm đúng mầm măng trong lòng đất, không phải ai cũng có thể. Cả ngày trời, may ra thợ đào được chục củ măng. Công việc này, đòi hỏi người đào măng phải có con mắt thật tinh. Nhìn đất. Biết khi nào nó há miệng. Đất ngáp. Có đôi tai thật thính. Để nghe đất phịt ra một luồng hơi. Nhìn và nghe, là cả một quá trình rèn luyện, tích lũy lâu dài. Và hầu như chỉ phát hiện bằng linh cảm. Linh cảm mách bảo chỗ này, chỗ kia có măng. Chứ không thể dùng sức trâu bò mà được. Ấy là thứ măng còn ngủ trong lòng mẹ đất. Nên nó ngọt và giòn. Cho vào miệng ăn, có cảm giác hương thơm của đất vườn.

Đất vườn làng tôi là thứ đất dẻo như kẹo kéo. Nếu chúng được luyện kỹ, có thể kéo dài thành sợi. Sợi đất dài rùm ròa làm râu ông Báo Đông. Sợi đất làm thành tóc bà mụ Dzạ Dzìn. Đất vườn làng tôi có khả năng doạ trẻ con quấy khóc. Đất ấy có mùi thơm và tỏa hơi nóng. Nói không tin, cứ nhìn da dẻ trẻ con làng tôi mà xem. Chúng như được làm bằng râu ngô và hăng hăng mùi vỏ quýt. Chúng xuất hiện nơi nào, nơi ấy có ong bay bướm lượn theo từng đàn. Chúng dí mũi vào da bọn trẻ để ngửi. Ngửi cái mùi đất làng tôi. Cái mùi đất hấp dẫn đến lạ lùng. Vì thế người làng tôi chả phải mang măng ra tận chợ để bán. Người ta tự tìm đến chủ vườn. Họ phải cạy cục mỏi miệng mới mua được dăm củ mang về làm món măng nhồi thịt hấp.

Mâm cỗ cúng trước mộ tổ tiên phải đầy đủ những món mà tôi vừa kể. Cúng xong cả họ ngồi quây quần thụ lộc. Người âm nhìn người dương ăn uống. Thấy con cháu ăn khoẻ, ham học, ham làm, biết kính trên nhường dưới, hồn người âm lấy đó làm mừng. Lửa bốc lên thành đám. Lửa vỗ tay như tiếng sao rơi. Lửa tung ra những chùm hoa phát sáng. Nhưng nếu con cháu biếng ăn, chỉ chăm chơi đánh đề đánh bạc, học hành thì dốt nát, nhưng lại kiêu căng khinh người, hồn người âm buồn rầu. Hương đang cháy, bỗng lụi. Nến đang sáng, bỗng phụt tắt. Biết là hồn người âm không vừa lòng. Người dương lập tức bảo nhau sửa mình. Cha phải làm gương sáng cho các con. Anh phải đáng làm anh, để đàn em nể phục. Ai có lỗi thì dập đầu xuống đất ba lạy. Chắp hai tay ba vái. Vái từ đỉnh đầu xuống trán. Từ trước trán xuống ngang tim. Mọi việc đều đi từ trái tim, từ lòng thành cầu gì ắt sẽ được như nguyện.

Tiếng chảo kêu loát xoát

Lịch sử dân tộc Dao, được coi là nhóm cư dân thiên di từ rất sớm. Điều đó, lý giải vì sao, ngày nay dân tộc Dao có mặt ở khá nhiều quốc gia, trên thế giới. Song, đông nhất là ở Trung Quốc. Nơi người Dao sinh sống từ thuở ban đầu.

Còn ở Việt Nam, người Dao có số dân đông đứng thứ bảy, trong cộng đồng năm mươi tư dân tộc anh em.

Họ sống rải rác trên khắp mọi miền đất nước. Nhưng tập trung đông nhất là Việt Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc. Họ thích sống ở vùng rừng sâu, núi cao. Những nơi có khí hậu quanh năm mát mẻ. Theo sách Tùy thư địa chí lý, ở tận Trường Sa cũng có người Dao sinh sống. Họ có tên gọi là Mạc Dao.

Người Dao tự nhận và tự gọi mình là Dao nhân, đọc thành Dào nhần. Nghĩa là người Dao. Có một số tên gọi khác: Kềm miền; Dụ Tsiăng miền; Dụ Lảy miền (Quầy liềm miền); Ồ gang miền; Dụ Kùn miền; Èng Bò miền (Hèng Bò miền); Pà ây miền…Theo ngôn ngữ bạch thoại, Kềm nghĩa là rừng. Miền nghĩa là người. Người rừng. Điều đó cho chúng ta biết thêm, trong quá trình thiên di thảm khốc, bản thân họ cũng có sự ngộ nhận. Họ không hiểu rõ nguồn gốc của tộc người mình.Nên họ tự nhận tên phiếm xưng: Kềm miềm hoặc Kìm mùn. Người rừng.

Cũng như các cư dân ở miền núi phía Bắc nước ta, người Dao cũng tổ chức ăn tết Nguyên đán mừng năm mới. Nhưng sớm hơn các dân tộc khác. Tết Nguyên đán thực sự bắt đầu từ 23, 24 tháng Chạp. Đó là những ngày nhà nhà mổ lợn. Người người mổ gà, để cúng ông bà tổ tiên.

Bước chân vào bản Dao, ta nghe tiếng bàn sản loát xoát xào thịt. Tiếng mỡ nổ tí tóp tưng bừng. Mùi tỏi, mùi thảo quả bay ra làm nứt mũi. Ánh lửa le lói lọt qua vách nứa. Lửa rơi xuống sàn nhà. Lửa văng ra vườn mía. Lửa là tín hiệu mời gọi mọi người hãy tới đây làm khách.

Bạn bè, anh em, bạn của người anh em, họ bước chân rì rầm, lục tục, kéo đến nhà nhau chúc tết. Sau khi rửa chân cất dép, họ liền được gia chủ chân tình, cầm tay mời vào mâm dùng bữa. Ăn bữa cỗ ngày tết, họ không tính tuổi. Ngồi càng già, càng tình thân, càng nồng nàn thắm thiết. Ngồi càng lâu, chứng tỏ gia chủ là người hiếu khách. Thức ăn nguội, người nhà mang lên kiềng ba chân sáu lá, thúc lửa hâm lại cho nóng sốt. Người nào quá chén, trót say mèm, hãy ngồi yên một chỗ. Người nhà sẽ mang rễ cây từ trên gác bếp xuống, thổi qua cho hết bồ hóng, đưa vào miệng ngậm. Chỉ mươi phút sau khách lại ngồi ngay ngắn, tỉnh táo, tiếp tục chéo chén. Cuộc vui có khi dài đến gà gáy lần ba.

Người Dao cho rằng, tết Nguyên đán dành cho người đã mất. Đó là tết ma. Vì thế, ma phải được ăn cỗ tết trước người. Từ ma tổ tiên đến ma nắng ngồi, ma gió đi chơi, ma mưa nằm dài… đều được chia phần: Quần áo đẹp, vòng kiềng bằng bạc, tiền âm phủ bằng giấy dó… để tiêu sài. Người dương có gì, người âm có nấy.

Tết nguyên đán, người Dao cũng gói bánh trưng. Bánh làm bằng gạo nếp nương, gói lá dong, nhân đỗ xanh cùng thịt mỡ. Nhưng không gói theo kiểu bánh trưng của người Tày, người Việt. Bánh trưng người Dao khum khum, gù ở hai đầu, gần giống múi bưởi. Người Tày chúng tôi gọi là pẻng lăng gòng – bánh lưng gù. Còn nhiều loại bánh khác, làm bằng bột gạo nếp, bánh bột sắn, bánh bột ngô, bánh gio, bánh rán, bánh trôi, bánh sừng bò. Khắp nhà, chỗ nào cũng có cái ăn.

Trước khi người nhà ăn, mâm cỗ phải đưa lên cúng ông bà ông vải. Hai bên bàn thờ, buộc mỗi bên một cây mía, để nguyên cả ngọn. Đây là hai cây gậy đi đường, cho tổ tiên lên mường trời. Đèn nến phải thắp sáng suốt đêm, không được để lụi. Ngọn đèn tượng trưng cho mặt trời và ngọn nến tượng trưng cho mặt trăng. Hai vầng nhật nguyệt thay phiên nhau soi sáng cho muôn loài, sưởi ấm cho mặt đất.

Đêm ba mươi, dù bận rộn, hay bất cứ lý do nào, cũng không được ngủ nhà người khác. Làm như thế, vô tình mang hết lộc nhà mình sang cho người ta. Sau ba tiếng gà gáy lần một, chủ nhà mang khẩu súng kíp ra cửa bắn ba phát chỉ thiên. Tiễn năm cũ, đón mừng năm mới. Ba phát nổ là ba tiếng cười của thủy tổ Bàn Hồ. Ngài mừng vui trước sự sinh sôi nảy nở của tộc người Dao yêu quý.

Sáng mùng một, cả nhà lo bữa cơm thật thịnh soạn, đón già bản đến chúc phúc. Người Dao Dụ lảy còn có tục vào rừng hái lộc. Hái cho mình và cho gia đình. Khi về đến đầu nhà, họ tháo máng nước ra, vốc lấy một ngụm uống cầu may cho cả năm.

Trong dịp tết, trai gái người Dao đều trưng diện áo quần sặc sỡ. Họ ríu ra ríu rít kéo nhau đi thành đoàn thành nhóm. Người đi như suối hoa. Người chảy từ bản này sang bản khác. Từ xã nọ sang xã kia. Mòn rách cả đế giày mà các chàng các nàng chưa ai muốn về nhà.

Họ hát Páo Dung sáng đêm tối ngày. Hát bên đống lửa. Hát bên đầu núi. Hát rè cả tiếng khản giọng. Câu hát giao duyên truyền đi vít cong cây mía. Tiếng hát xuyên qua vải áo chàm và làm mi mắt chát. Sau mỗi cuộc hát, có đôi thành vợ thành chồng. Cuối năm có cháu cõng bi bô mang về khoe nhà ngoại.

Tết nguyên đán là thời khắc quan trọng nhất, thiêng liêng nhất, đối với người Dao. Những người từ rừng ra, gặp cánh đồng người.

Đình chợ Co Xàu

Ngôi đình to như một dãy phố thu nhỏ, nằm giữa lòng chợ Co Xàu. Mái đình lợp ngói âm dương. Viên ngói nào cũng to bản, dày, nặng như sắt. Trên mái đình, rêu mọc ướt, mượt như nhung. Nếu nhìn từ trên trời xuống, mái đình rải ra như một đám cỏ. Đêm mưa to, không nghe tiếng mưa rơi. Ngày nắng nóng, bước chân vào đình, ta thấy hiu hiu gió mát. Người đi lại trong đình họp chợ, mà chẳng nghe tiếng ồn ào. Người mua bán gặp nhau đều quen biết từ ngày còn đánh khăng đánh đáo. Không cần mặc cả. Không cần thêm bớt. Người ta mua thế nào, tôi bán thế ấy. Chợ Co Xàu bình yên như trong mơ.

Ngôi đình thân thuộc ngày ấy giờ không còn nữa. Chả hiểu vì lý do gì mà người ta bốc dỡ nó đi. Thay vào đó bằng một ngôi đình lợp tôn, cột xi măng, quét sơn xanh xanh đỏ đỏ. Hàng họ vẫn được bày bán. Ngày dưng cũng vẫn đông người gần như ngày chợ. Nhưng trông lạ lẫm. Lạ lẫm như một người quen thân, vừa đi bịt răng vàng ở tận đâu về .

Những người dân ở quanh vùng lân cận Co Xàu, họ coi ngôi đình là ngôi nhà chung. Nhìn thấy nhau là cười. Cười nổ như ngô rang. Bỏ thuốc lá sợi ra cùng nhau cuốn. Anh hút của tôi. Tôi hút thuốc của anh. Xem thứ nào nặng hơn. Tôi chỉ thích hạng nhẹ. Câu chuyện bắt dầu từ thuốc lá sợi. Chuyện vào rừng săn chồn hương. Chuyện buôn trâu bây giờ lỗ lớn. Người ta mua xe công nông đầu nổ, thay cho trâu cày. Tôi thấy họ nói chuyện suông mà vã mồ hôi hột. Cái tình người bốc nóng lên trán. Người quê tôi nó thế. Đói người. Khi gặp nhau thì mừng. Mừng quá không giữ được con tim. Con tim lồng lên như ngựa sổng.

Ai cũng có ít nhiều kỷ niệm trong đình chợ. Thế hệ nào cũng có chuyện vui buồn, gắn bó với ngôi đình này. Biết bao chuyện cơm sống cơm chín được kể đi kể lại. Ngôi đình đều thuộc làu và nhớ mặt từng người.

Vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước, nơi đây đã diễn ra bao cuộc vui xuân có thưởng. Nào là trò vừa đi xe đạp vừa châm ngòi pháo. Nào là trò biểu diễn múa lân, múa rồng, muá khỉ, múa chim gạn gộc… Lân với rồng và đám trò tung chân múa tay như bão. Não bạt với trống chiêng ầm vang tưởng làm bay tốc mái đình. Góc đằng đông có người đi chân trần trên luống than hồng rực. Góc đằng Tây có người trèo lên lưỡi kiếm sắc như dao. Ở đầu hồi có người ngậm rượu, khi phun ra thành quầng lửa. Cuộc vui cứ thế, kéo dài từ sáng sớm đến tối đen lúc nào không biết.

Tắt nắng mặt trời là người người rục rịch gọi nhau ra đình hát Dá Hai. Hát Dá Hai ở Co Xàu, trở thành tâm điểm sinh hoạt văn hóa, của mấy huyện miền đông tỉnh Cao Bằng. Họ tự biên tự diễn. Nhiều tích tuồng ngày ấy, lấy đi nước mắt, tiếng cười của hàng ngàn khán thính giả. Ngày ấy đội tuồng Dá Hai Co Xàu chỉ có đèn măng xông, vài cây sáo nhị. Ấy vậy mà ý ò e ý e suốt cả mùa xuân. Phông màn màu cháo lòng với vài cánh gà héo hắt. Làm gì có hệ thống âm thanh ánh sáng xịn như bây giờ.

Tôi thấy mỗi phiến đá lót làm nền đình, rộng chừng nửa thước, dài một thước tây, và có độ dày hai thuốn rưỡi. Chúng kết dính với nhau bằng mật mía với phân trâu tươi. Hàng trăm năm nay, các phiến đá không suy suyển một ly. Phiến đá nào cũng lõm chõm gồ ghề. Lâu đời rồi, người chân không giày, đi lại trên đá. Người đi qua đi lại như mài. Có phiến lên nước xanh như ngọc. Có phiến màu đen tuyền. Có phiến tiết ra muôn vàn con suối nhỏ. Tôi nghe như có tiếng cá quẫy. Tiếng róc rách. Tiếng lá thu rơi. Tiếng người hổn hển vừa chia tay nhau ban chiều. Ruột gan họ như dưa chua sôi lên tràn ra miệng hũ. Những phiến đá dàn thành hàng ngang hàng dọc. Đá cầm tay nhau đi mút đời. Đá kể chuyện.

Tôi thấy ở Co Xàu, thời nào cũng có những mối tình, trong trắng và tinh khiết. Song, tình yêu của họ ít khi thành đôi. Những cuộc tình dở dang không rõ lý do. Lại có mối tình, cả hai người đều vừa câm, vừa điếc, vừa mù. Nhưng khi họ cười lên, làm sáng bừng một góc phố núi.

Tôi nhớ mối tình của anh gánh nước thuê yêu cô hàng bánh cuốn. Cô con gái cưng của một cụ đồ nho. Tình yêu nảy nở cuồng nhiệt, nhưng bị ém chặt mãi trong lòng. Buộc họ phải yêu trộm trong rơm rạ. Có người biết thì lờ đi cho qua. Người không biết vô tình dẫm chân lên của họ. Đang sung sướng, bỗng la lên ối ối. Trần như nhộng, hai anh chị chạy thục mạng vào giữa đám ngô. Ngô đang thì cõng con nhỏ. Người làm ngô thương tình, chạy ù về nhà ném cho mỗi người bộ quần áo cũ. Đến nay, họ là người thiên cổ. Và trên ngôi mộ của họ, tôi lại thấy nấm mọc thành đôi. Người làng kể rằng, cứ nhá nhem đèn, lại thấy có bóng hai người trắng toát, đội mồ lên thút thít…

Cả một kho tàng cổ tích xa xưa và chuyện ngày nay, đã ngấu tình vào ngôi đình này. Nay vô cớ những phiến đá bị người ta đào bới, vứt lăn lóc không thương tiếc.

Advertisements