Y PHƯƠNG

Tháng giêng
tháng giêng
một vòng dao quắm (I)

Nhà thơ nghỉ khỏe[/I]

Làng Hiếu Lễ của tôi tuy xa xôi, heo hút, ở tận miền biên giới. Nhưng cũng có khá nhiều người biết ở nước ta có Hội Nhà văn. Một tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp của giới cầm bút viết văn, làm thơ – những người mà từ khi sinh ra trong lòng đã có lửa. Ngọn lửa hừng hực yêu thương, sưởi ấm đến bao số phận con người. …

Song, người làng tôi chỉ hiểu một cách rất gần gũi và đơn giản. Đó là những người khai pác kin gò (bán mồm nuôi cổ), hay khai slư liệng minh (bán chữ nuôi thân). Nghĩa là, cứ dính một chút chữ nghĩa, mài ra bán dần đi, nuôi sống mình trọn đời.
Hồi xưa, mấy ông thầy đồ, thầy tào, thầy mo, thầy tướng số, mỗi độ xuân về thường vác bút nghiên, hành nghề bán chữ ở ngoài phố Co Xàu. Các thày quỳ xuống chiếu, rồi mới nhẹ nhàng nhón lấy bút viết. Trước khi hạ nét bút đầu tiên, thày nhằm ngắm đường đi thật ngay ngắn, thật chính xác. Cẩn thận cho con chữ nó: Bò. Trườn. Lăn. Đánh hất lên. Đánh võng xuống. Dậm chân đứng … Chữ thánh hiền là không thể xuề xòa, bỗ bã, bạ đâu cũng ngồi được. Chữ viết phải chân phương, rõ nét, vững vàng, chắc chắn như bàn thạch. Không cần cầu kỳ, nhưng nhất thiết phải đẹp. Viết không đẹp không dám nài người ta đến xem.

Đây là chữ PHÚC, màu nâu non. Tặng cho người bốn chín. Cái tuổi đang vượng. Nên bụng phải to. Nét chân tay phải mập. Chữ THỌ, màu đỏ thẫm. Biếu tặng người sáu mốt. Cái tuổi đang chín chắn, nhưng chưa hẳn già. Nét chữ đằm, rắn rỏi, cứng cáp. Màu sắc trầm, ấm. Chữ KHANG, hiến tặng người bảy ba. Màu vàng cam. Cái tuổi xưa nay hiếm. Nét chữ hơi hao gầy. Nhưng không được buồn. Chữ NINH, màu tím than. Dâng lên bậc trưởng lão, tám lăm tuổi. Nét chữ bay bướm. Màu sắc tươi rói. Hồn nhiên như trẻ lại. Chữ KỲ RI THỌ, màu đen tuyền. Mừng cho người sống ngang trời đất. Bạn bè của mây trắng, mây vàng, trăng sao. Đó là người đã hưởng hết chữ. Phúc, lộc, thọ mãn mãn mãn mãn mãn đường.

Viết xong chữ nào, thày treo lên chữ ấy. Chữ phơi trong nắng mai, làm sáng bừng lung linh suốt mấy dãy phố dài. Những con chữ cười tươi, nở nang mặt mày, trong khuôn giấy đỏ. Chữ reo cười mời mọi người tới đây, trước hết là thưởng lãm. Sau đó tùy thích lựa chọn. Mừng người ở tuổi nào, thì mua chữ ấy. Nhân dịp các bậc bề trên, vừa chạm một vòng tròn hoa giáp. Hơn một, hai, ba vòng hoa giáp. Tuổi đời như lá, đời người như cây. Lá thì rụng xuống, mà cây vẫn còn.

Với các ông thày bán chữ kể trên, việc tra ngô trên nương, cày ruộng dưới đồng chỉ là nghề phụ. Mặc dù, họ xuất thân từ đời này qua đời khác cùng là dân áo ngắn. Dân áo ngắn có mỗi một việc theo đít con trâu, đi cày. Nhưng các thày là người được học hành chữ Hán từ nhỏ. Khi lớn lên, việc cày bừa, trồng trọt đều rất nát. Nhất là khi chăn thả trâu bò, con về chuồng, con đi chơi, thày nào có biết. Mấy khi chân lội xuống bùn, mà trách thày không phân biệt nổi, bùn non khác với bùn già.

Cha tôi có người bạn thân, tên là Slay Khuy. Ông này có dáng người thư sinh nho nhã. Trên mình ông lúc nào cũng tỏa ra mùi mực nho. Cái mùi quý phái, sang trọng, hấp dẫn được cả thánh thần. Đặc biệt, ông nuôi đủ mười móng tay, hình hoa móng rồng. Móng nào cũng quăn tít. Trông rất đẹp. Mỗi khi ông dùng ngón trỏ lật sách, tôi thấy có ba con bướm trắng. Chúng rợp rờn đậu bên mép quyển mo Mường thàng.

Hồi đó, các cụ ngồi chơi, xơi rượu và xướng họa. Bao giờ cũng bắt đầu từ sáng mùng hai Tết, sang tận mùng bốn mùng năm, cuộc vui chưa vãn. Các cụ chỉ việc ăn chơi, thưởng hoa, đọc thơ và hút thuốc phiện. Vừa đọc vừa bình. Bình đến câu nào hay là lấy tay vỗ đùi đen đét. Bóng người với bóng râu ngả nghiêng lắc lư. Tháng giêng là tháng lắc lư mà lại. Rất hiếm khi thấy có cụ nào nói to và cười liền một cục.

Có một vài cụ để tóc dài, búi tó, cài trâm bằng bạc. Có cụ mặc áo bông trần quả trám. Có cụ choàng bên ngoài chiếc áo dạ màu cứt ngựa, có từ thời Tây, nay còn sót lại. Có cụ chỉ mặc độc chiếc trạch săn áo Nùng, ngắn gần đến rốn. Nhìn ai cũng nặng nề, bởi những tấm áo choàng mùa đông, vừa thô dày lại vừa dài. Nhưng vẻ mặt cụ nào cũng nhẹ nhõm, tươi tỉnh.

Không khí thơ ca thời đó như rồng cuốn vào nhà. Ở đâu có thơ, nơi đó người ta đốt trầm lên nghi ngút. Khói thơm thoang thoảng bay ra mùi thiêng liêng thanh cao. Khói bạch lạp nổ lép bép trên giá đồng, uốn hình con hạc. Con hạc đứng một chân. Còn một chân chụm móng, chờ đạp mây bay lên. Mười hai cây cột nghiến, cột nào cũng bóng đen như sắt. Cột nào cũng sáng đèn. Tôi ngửi thấy toàn mùi dầu mác lại lâng lâng, ngai ngái. Cái mùi đồng rừng chân chất, bốc lên sự no ấm, nhưng lại tỏ ra rất đỗi khiêm nhường. Nhờ có khói hương trầm, làm cho câu thơ mênh mang. Hồn vía người tan nhòa vào cỏ cây hoa lá. Người ngồi xuống chiếu như ngồi vào mây khói. Câu thơ hay, làm cho người nghe tháo cởi được nỗi lòng.

Bên trong buồng, người nhà đặt một bộ bàn đèn. Bộ bàn đèn làm bằng gỗ khảm sà cừ. Bàn có bốn góc. Mỗi góc có một con sóc. Con nào cũng bé bằng ngón tay út, ngất ngư say thuốc phiện. Ở giữa bàn, có ngọn đèn vặn nhỏ. Ngọn lửa hình con ong. Con ong reo lên ro pho ro pho, khi có người càm môi nghiêng tẩu. Lập tức, có kẻ đê mê theo, ngồi duỗi chân, bóp gối. Bỗng có tiếng “chẹp” ngon lành và một tiếng “ịt” thoát ra từ lỗ mũi. Ông đồ già chẳng việc gì mà nhả khói vội. Mím môi, ông ngậm thêm một chút nữa. Ông nuốt từng tý một. Nuốt cho kỳ bằng hết chỗ đuôi con khói. Nuốt xong, ông chiêu liền một ngụm trà mạn. Trà đang riu ríu sôi trên bếp than. Khi vào đến miệng, trà sôi thêm một lần òng ọc. Rồi ông đồ mới nuốt. Nuốt xong, ông khẽ xả ra một xíu thơm. Một xíu thôi. Cái chỗ khói í liền liếm quanh, bò nhanh lên đùi non, lần mò xục xạo vào bộ ngực. Ngực càng căng cứng rắn chắc, khói càng đê mê …sường!

Rõ khổ cho cái phận làm đàn bà con gái. Họ là những kẻ mắc chứng bệnh cả tin và yếu đuối. Đêm nay, hơi nàng tiên nâu đang làm họ bồn chồn, khó ngủ. Bởi cái mùi khói thuốc phiện thổ tả này nó kích hưng phấn lên não bộ. Thế là các mú mẹ trẻ rần rật, ngứa ngáy đến mút đầu ngón tay. Họ cứ nhích dần dần. Nhích từ từ. Lừa từng phân vuông một. Được dịp là mú trẻ khẽ ngả người, nằm vào chỗ còn để trống. Cười rò rè, thày cho em xin tý sái ba.

Trời ơi! Khói thuốc phiện sẵn sàng nhấc bổng cả ngôi nhà sàn ba gian, nhẹ như lông chim. Ngôi nhà bề thế bưng ván gỗ mạy chuông đen bóng, nó sẽ sang tay người khác tắp lự. Chỉ cần chủ nhân đêm đó lên cơn thèm. Khi lên cơn, người ta sẵn sàng bán cả thế giới. Một cái nhà sàn nhằm nhò gì. Huống đây toàn là đàn ông với đàn bà. Cái chỗ giống đực với giống cái, tự chúng nó tìm đến nhau, dính liền chặt chẹt. Mới thoạt nhìn, đã đú đí sướng cái mắt. Cho nhau tý khoái, có là gì đâu.

Đang mải nghĩ gần nghĩ xa, nồi cháo gà thơm cay măng ớt, bước thẽ thọt bưng qua ngang mặt. Tiếng e hèm vang lên đầy hách dịch, từ nơi bàn đèn các cụ, một tốp người khăn đầu rìu, xắn tay áo, bưng bê đồ ăn xíu dzẹ (bữa ăn nhẹ nửa đêm) lên hầu ngay tắp lự.

Đấy là câu chuyện xảy ra cách đây non thế kỷ. Hầu hết lứa chúng tôi đang còn bú ngủ trong màn. Người lớn bế người bé trên tay, như ôm bó củi.

Còn bây giờ, người làng biết tôi có chân trong Hội Nhà văn. Họ tò mò xem cung cách ăn chơi của các slấy sli nhà thơ ngày nay như thế nào. Họ để mắt canh chừng, rình chúng tôi như kẻ trộm. Xem tên này liệu có bị lai căng lối sống, của người thành thị. Cái chân chất, thật thà liệu có biến dạng như vỏ đỗ phơi khô. Con người mà. Nó có phải là con dao đâu. Con dao sắc để trong kho dao cùn, nó vẫn sắc. Con người dễ bị nhiễm thói hư tật xấu. À mà không. Dễ bị đua đòi. Học cái đứng đắn, sáng tươi thì khó. Học cái tối đen nơi gầm sàn, gầm giường, gầm chạn dễ lắm. Mà ở thành phố, tôi đã thấy rồi, rác rưởi ngập đầu người tử tế.

Thỉnh thoảng vào dịp Tết Nguyên đán, hay tiện đường về tỉnh công tác, tôi có rủ mấy người bạn văn thơ, từ Hà Nội lên Trùng Khánh thăm nhà. Quê mạc gần với phố xá, nên người làng tôi tinh mắt, thính tai. Nhưng chả hiểu vì sao họ muốn tìm hiểu kỹ về người khác đến thế. Trong khi, họ chẳng biết tý gì về bản thân mình. Họ săm soi từng đường kim mũi chỉ, xem nó lỗi ở chỗ nào, rồi còn có cái để mà cười chê. Đặc tính nghe, xem, rồi chê bai, chắc chắn không chỉ có ở mỗi người làng tôi. Còn nhiều nơi khác, trên khắp nước mình. Đám là tiểu nông, đâu đâu cũng vậy. Cái nhiễu sự rách việc, quả là làm khó chịu. Khó chịu vì nó du kích, lắt nhắt, nhỏ nhen, bần tiện, không đàng hoàng. Chứ không hẳn xấu xa. Nếu xấu xa thì người ta đã lên án, tống khứ nó đi rồi.

Chả ai bảo ai, người làng cứ như y hẹn. Họ nối mắt nhìn ra đầu làng. Thấy những người lạ bắt đầu xuất hiện. Người lạ khật khừ đi hàng một trên bờ ruộng. Hai chân xiên xẹo, run rẩy như hai que rang lạc. Đi mười bước dừng lại một lúc. Anh ngửa cổ ngắm trời. Người cúi mặt nhìn đất. Nhà thơ mà như đây ư? Trời đất! Đồng ruộng, làng quê vẫn thế, như từ xưa. Trời tròn đất vuông. Đất chắc gần như đá. Đứng không lún. Nhảy không lún. Đè nghiến xuống cũng không lún. Chôn sâu xuống cũng không lún. Gi gỉ gì gi đều mọc lên từ đất. Lấy làm lạ lắm hay sao hở các slấy sli?

Họ bỏ nhỏ vào tai nhau. Xem này. Các ông nhà văn nhà thơ chả khác mấy thằng hoạn lợn ngoài chợ Co Xàu. Nào túi chéo đeo vai. Nào túi nải xách tay. Cặp giả da căng phồng. Chả biết họ đựng những gì trong đó. Có chiếc túi ngả màu xin xỉn. Có chiếc cặp lên màu cứt gà, sáng bóng nhẫy. Có người để tóc dài lòa xòa ngang vai. Có người đầu húi mai cua, nhưng để râu ba chòm. Có người trên xanh, dưới trắng hếu như đầu Mán. Hầu như tóc anh nào cũng biếng chải. Họ cứ để một đống sừng mọc lù lù, trông rất bất tiện. Tóc tai thì lếu láo vô tổ chức, vô kỷ luật. Râu ria lởm chởm, tua tủa như măng trúc. Cái trắng. Cái đen. Cái nâu. Cái nào cũng ba hoa phét lác. Râu với ria bốn ngày, bảy đêm không buồn cạo. Lại có người quá ư chỉn chu nghiêm túc. Hệt như ông giáo làng, thời Pháp thuộc. Người nào cũng lơ ngơ lác ngác như thằng trộm trứng. Mắt thì nhìn vào cây. Tai thì ốp vào đá. Lại có người còn vốc nước ấm dưới ruộng lên để ngửi. Nghe chúng tôi nói. Nhìn chúng tôi ăn. Người làng tôi buông một câu âm u: Tưởng nó oách thế nào, hóa ra vẫn là thằng Sước đeo dao quắm ở làng Hiếu Lễ này thôi.

Nói ra được như thế, nghĩa là, họ khẳng định trăm phần trăm, nhà thơ chẳng hơn gì mình. Hơn thua gì đâu mà các bác so sánh. Làm thơ với làm ruộng cùng là làm. Nhưng, người làm ruộng sướng hơn cánh làm thơ chúng em. Người làm ruộng khỏe chân, khỏe tay, khỏe ăn, khỏe ngủ. Có cái gì khỏe nữa, thì tôi không biết. Nhưng, chắc chắn một trăm phần trăm, họ không bao giờ nghỉ khỏe như bọn làm thơ. Nói thật đấy.

Tết anh cả

Một năm mười hai tháng, với người Tày Nùng chúng tôi hầu như tháng nào cũng có Tết. Mỗi tháng một tết, như cây tre mười hai đốt. Nhưng Tết tháng Giêng là Tết to nhất. Tết anh cả. Tết đứng đầu trong năm. Vì thế các con cháu đều cầu mong ông bà ăn ngon, ngủ khỏe, sống lâu. Còn ông bà chúc con cái học hành điểm chín điểm mười. Láng giềng chúc nhau nhà nào cũng đầy phè tiếng cười. Làng xóm, mường trên, xã dưới không mắng chửi nhau. Trong chuồng, gà đẻ trứng hồng, vịt đẻ con bạc. Thóc lúa kìn kìn vào cửa trước. Trâu, bò, ngựa, dê lung lúc vào cửa sau.

Bà con chuẩn bị cho cái Tết tháng Giêng thật chu đáo. Ngay từ sau rằm tháng Bảy, lá gói bánh gai chưa kịp héo, họ lên kế hoạch cho từng tháng, chuẩn bị thức ăn, đồ mặc cho cả nhà. Tháng chín, tháng mười vào rừng kiếm củi, đun nồi bánh trưng, cất lô rượu gạo. Tháng Một bện rơm lót giường, làm ghế cho khách ngồi. Tháng Chạp ủ muối cỏ khô, rơm khô dành cho trâu bò ăn. Vào dịp Tết Nguyên đán, ở miền núi, hầu như đêm nào cũng có sương muối. Thậm chí, có năm tuyết rơi dày đặc cả tuần. Trâu bò thi nhau lăn quay ra chết. Xác chúng nằm thối inh cả lối đi. Sang vụ, chẳng biết lấy con gì cày kéo. Thế nên, người ta lo trước khỏi lo sau.

Tháng Bảy tháng Tám, họ trồng dưa cải đắng, đậu đũa, đậu giây áo, đậu co ve, đậu hà lan. Phòng khi có người cần giải ngấy, giã rượu. Bởi ngày Tết, các ông bố trẻ rủ thêm các chàng trai bản đến chơi. Họ sẵn lòng xơi thật thà cả mâm thịt mỡ. Vét cạn ba năm chum rượu. Thậm chí có nhà còn lo rễ cây hoàng đằng để chữa khản giọng, chữa mất tiếng cho các mẹ say mê cưa cẩm hà lều. Còn bọn con gái thì lo đi xin vải vụn. Những mảnh vải xanh, đỏ , tím vàng để chắp mâm quả còn. Qủ còn nhỏ hơn nắm đấm. Hình vuông. Họ thêu đôi chim hòa bình đậu trên cành bjooc tào hoa đào. Cành hoa rủ xuống, ôm lấy hình quả trám. Hình quả trám nằm lọt vào giữa ngôi sao tám cánh. Nó sẽ đặt vào lòng bàn tay, người mà mình ưng ý.

Mẹ sinh anh làm trai
Cha sinh em làm gái
Em là quà của núi
Cho không anh mang về.

Làm sao gói hết niềm vui vào trong ba tháng, bận rộn lo kịp tết. Cứ phải có cho mỗi người mười hai mẹ sức, hai mươi tư cái tay bánh tẻ, và một cái đầu nghĩ nhanh như nhện nước, may tạm ổn.

Các phiên chợ Co Xàu, Thông Huề, Pò Tấu, Pác Gà, Tà Lịnh, Bản Ngắn đầy ắp lá dong, gạo nếp, gà thiến… Còn rượu gạo, rượu ngô dùng trâu đực càn quét đi không hết. Những chum rượu phình phàng ngất ngưởng bày từ sáng sớm đến chiều tà. Bên hàng rượu, lúc nào cũng có đến cả tá lão ông, lão bà nhão nhoét như bùn. Nhưng không làm một ai khó chịu. Trước mặt mình, toàn những giọng lờ đờ, nhòe nhoẹt. Dây vào họ chỉ chuốc lấy sự bực mình. Thà rằng cứ nói chuyện với đầu gối, thấy nhẹ người hơn là nghe mấy thằng say. Hễ nó nói là tràng giang đại hải. Thấy không có người đáp lại, còn ngứa lưỡi. Thế là nó lại chửi. Tiếng thằng rượu, nát như đậu phụ nhứ. Chẳng thấy đau, nhưng nó buồn buồn trong lỗ nhĩ.

Từ hai tám hai chín Tết, người ta đua nhau eng éc mổ lợn. Những chú lợn tạ bị chọc tiết, lùm lùm như nong đậu đen, chân co chân duỗi nằm trên đống rạ. Rồi họ khiêng chúng cho vào lóong, dội nước sôi lên kêu ặc ặc. Tôi rất khoái nhìn thấy cảnh này. Không gian rống lên những tiếng ó é sặc sụa một màu khói trắng. Khói trắng thoát ra từ miệng người nói. Khói trắng bay ra từ miệng bẳng chứa nước sôi. Khói trắng từ mây trên cao tùn tụt xuống. Khói trắng từ mái ngói đen nhí nháo bay ra. Khói trắng từ người đốt đồng nống lên. Một vùng khói trắng. Núi lam mờ nhạt đi vì khói trắng.

Thỉnh thoảng thấy người đẹp môi hồng, da trắng như bột nếp, tóc đen như đuôi gà. Các chị khẽ khọt quẩy thùng tôn, lách qua làn khói trắng, lần lần xuống bến nước. Họ là những nàng dâu vừa mới cưới, vừa được em chồng đón về nhà.

Nàng dâu, người Tày gọi là pỉ lùa, pỉ nàng. Họ đích thực là mùa xuân của mùa xuân. Mùa xuân trong mùa xuân. Chiếc áo chàm mới tinh mặc trên người, không che kín làn da non và ánh mắt dao cau. Ít khi nghe họ nói, họ cười. Họ đi đi, họ về về trong im lặng. Họ ở đâu, ngồi chỗ nào cũng lấp lánh sáng. Ai nhìn thấy pỉ lùa, pỉ nàng đều nhâng nhâng vui.

Hồi ấy, tôi có một người chị dâu họ. Ngày ấy chị đẹp ngẩn người. Đẹp từ dép đẹp lên. Đẹp từ tóc chải lệch ngôi đẹp xuống. Bây giờ xem mấy cô hoa hậu trên tivi, tôi nghĩ họ chỉ đáng lau chân cho chị tôi. Nói vậy có phần hơi quá lời. Nhưng quả đúng như vậy.
Năm đó, anh tôi đi du học tận thành phố Thẩm Dương, Trung Quốc. Anh không về được. Đêm về khuya, chị chui vào trong buồng, buông màn, lén khóc. Làm cho mọi người trong nhà bác tôi, nhìn thấy bánh, mà chẳng muốn bóc. Lòng dạ người già, nhiu nhiu như lá chuối buồn. Người đẹp khóc, đá cũng héo, nữa là người.

Sáng mùng một, nhà nào cũng cắm cành bưởi lên hai bên cánh cửa để trừ tà. Đun một nồi nước lá thơm, xông hương ban thờ. Hơi nóng bốc lên, các bậc tiền nhân tắm gội. Chủ nhà đội khăn xếp áo dài, thắp những nén hương đầu tiên trong ngày, ngày đầu tiên trong năm.Họ trình báo lên ông bà cụ kỵ rằng mùa xuân đang đến cửa rồi. Chúng con thỉnh mời tổ tiên xuống trần gian vui tết.

Mùa xuân là đứa trẻ sơ sinh. Vì thế, ngày này người ta kiêng nói to, nói xẵng, hoặc bẳn gắt. Trong nhà không được làm ồn. Không phơi phóng. Không quét tước. Không sang nhà người khác. Ai cũng nở nụ cười vui vẻ thường trực. Ai có lỡ tay làm vỡ cốc chén, nhỡ miệng nói tục, ông bà, cha mẹ cũng không lừ roi mắng mỏ. Mùa xuân ăn xong. Mùa xuân lại ngủ.

Nhiều người xem ngũ hành tương khắc tương sinh, tính tuổi mình với mệnh giời. Định ngày giờ xuất hành ra cửa. Nhà ai có khách là đàn bà con gái đến chúc tết đầu tiên, năm ấy sẽ ăn nên làm ra, mua một bán mười. Bởi đàn bà con gái là giống má. Là mùa màng. Là no ấm. Mùa màng đến xông đất thì còn gì may mắn bằng.

Mùa màng no ấm ơi! Mong sao sang năm em bớt nói dai, nói dài và ghen tuông vô cớ. Được không. Chỉ cần thế thôi, cuộc đời chúng mình ngày nào cũng là ngày tết. Không có em, cánh đồng lúa vàng sẽ biến thành cánh đồng chết. Vắng em một ngày, bếp lạnh, nhà nguội. Chăn màn, quần áo, đấu đá với xoong nồi, mâm bát. Nhà cửa bừa bộn như một bãi chiến trường. Chẳng còn chỗ nào cho bọn anh đặt chân, ghé mông. Không có em, xôi nếp rưới mật ong cũng chỉ bằng cỏ rác. Nói thật đấy. Chẳng ngoa đâu. Đàn bà con gái là một nửa thế giới. Với người Tày chúng tôi, đàn bà con gái đẻ ra thế giới. Họ nói chắc như đinh đóng cột. Nói từ năm con chuột biết nhằn thóc vàng.

Ngày mùng hai, bầu đàn vợ chồng, con cái sang chúc tết ông bà nội ngoại. Lúc này, gia đình chúng như một giây hoa xanh, đỏ, tím, vàng. Giây hoa líu tíu, năm mới chúng con xin kính chúc ông bà sống lâu trăm tuổi. Chẳng có ai sống lâu đến thế. Nhưng vẫn thấy ấm lòng. Ông bà vui như trẻ lại vài chục tuổi. Móc túi mừng cho mỗi đứa một bao lì xì. Lì xì hiểu theo tiếng người Quảng Đông Trung Quốc: Lợi thị. Lợi thị lợi tức, là tư duy của những người kinh doanh buôn bán. Một vốn bốn năm lời. Lì xì ngày nay được hiểu là lời chúc của ông bà. Lì Xì đem lại cái may mắn cho các con các cháu. Ai ai cũng phát lộc phát tài. Ai ai cũng sinh sôi nảy nở.

Lì xì với số tiền tượng trưng, chục ngàn, hai chục ngàn. Đây là đồng tiền lấy hên làm chính. Không phải dùng số tiền này tiêu pha mua sắm. Các cháu cho tiền lì xì vào chú lợn đất. Chú lợn cười lạch sạch lạch sạch. Cười mỏi cả tháng giêng. Được lộc, ai mà chẳng cười.

Ngày mùng ba Tết, mọi người ra khỏi làng. Tham gia các trò chơi đấu vật, kéo co, đua ngựa, múa chim nộc niệc. Đàn ông, chơi cờ tướng . Đàn bà ném còn, chơi cầu lông gà, thêu thùa, may vá, gấp chim, tỉa hoa, xén lông mày. Trẻ con đánh khăng, đánh đáo, bịt mắt bắt dê, chơi trận giả. Còn các vị bô lão thì ra đường sưởi nắng. Thấy họ bảo nắng xuân làm cho người ốm. Đấy là câu nói ngược. Nắng xuân chính là tia hồng ngoại. Hãy để tia hồng ngoại ngấm vào da người cho săn chắc. Nắng còn làm khỏe râu đen tóc. Sưởi nắng ngày một tiếng, đêm về, trẻ con không quấy khóc đái dầm. Cây cỏ xanh tươi là nhờ nắng ấm nuôi .

Cố tôi bảo mùa xuân là mùa làm người. Mùa xuân vui từ khuya đến sáng. Ông bà ý tứ giục đám trẻ lau nhau đi ngủ sớm. Mùa xuân là mùa làm người. Cho nên, cây cỏ trên rừng thường e thẹn. Cây cỏ hay đỏ mặt. Đỏ mặt làm thành hoa.

Chuyện ma gà

Nói thật lòng, tôi cũng chưa biết ma gà là gì, mặt mũi hình thù nó như thế nào. Tại sao ma gà hành người ta lâu dài đến thế? Đồn từ đời này sang đời khác mà lời đồn không chịu mục nát. Không những người làng tôi, mà cả vùng núi Việt Bắc, Tây Bắc, ai ai cũng đồn đại xung quanh chuyện con ma gà. Nó thổi từ tai nọ sang tai kia. Nó truyền từ miệng người này, nhả sang miệng người khác. Tin đồn loang nhanh như ao bèo tấm. Thực hư chả biết. Nhiều người ghê khiếp ma gà. Nhưng tôi hoàn toàn không tin. Đó là điều nhảm nhí. Mặc dù, đôi lần, tôi cũng sởn gai ốc, khi nghe người ta kể chuyện này.

Họ thường đồn, nhà kia có cô con gái xinh đẹp, nết na, thế nào cũng có ma gà. Nhà ấy làm ăn phát đạt nhanh đến thế, chắc có con ma gà giúp v.v… Nói tóm lại, những ai sủi tăm hơn người một chút, liền bị gán cho có ma gà. Khi không ưa ai, thiên hạ cũng quàng lên cổ người ta hai chữ ma gà. Ma gà như vòng kim cô ở nơi nhạt muối. Ở những người thiếu tình thương yêu đồng loại, cái sự ác tâm làm thành lời đồn. Tôi nghĩ như thế. Không biết có đúng không.

Lời đồn đại ấy, vô tình làm cho nhiều gia đình lâm vào cảnh khốn đốn. Ra đường không dám mở miệng chào ai. Vào làng, không dám chào trâu bò lợn gà. Không dám khen trẻ nhỏ. Không dám hỏi thăm người già. Khi đi làm đồng hay lên rừng kiếm củi, lẽo đẽo đi một mình. Không có ai bước chân đi cùng. Giữa đường, chẳng may gặp mưa to gió lớn, người có ma gà không dám đứng trú chân. Chỉ sợ người nào nhìn thấy. Người ấy liền réo tên vạch mặt, ông trời nghe tiếng. Ông trời lập tức sai thần sét đánh chết. Người có ma gà, nhìn vào đâu cũng làm cho muôn vật bị thui chột. Lời nói của họ như nhựa cây sơn. Dính vào liền bị ngứa khắp người. Nó sẽ làm héo úa cây rau, thối cây hoa. Làm xanh máu. Làm teo cơ. Trong người khó ở. Trẻ thì biếng ăn. Già thì đau xương nhức óc. Trâu, bò, lợn gà bỗng dưng biếng ăn… Muôn lời đồn cay hơn ớt trộn vôi. Người có ma gà sống như thế cả đời, sống sao được.

Họ muốn bỏ quê mà đi. Đi tới nơi nào không còn có ai biết tên nhớ mặt. Nhưng đi đâu được? Lời nói gió bay. Gió mang lời đồn tuy không chết người, nhưng làm héo hon, tóp teo thần xác. Lời đồn theo đi cả ngàn vạn dặm. Người nhà quê, ai cũng mau miệng, nhiều mồm. Họ rất thích “buôn dưa lê”, ninh cháo mạ chuyện chẳng hay ho gì về người khác. Ai mang tiếng có ma gà buộc lòng ở lại với làng. Họ cắn răng chịu đựng, suốt đời âm thầm làm cái bóng. Cái bóng cắm mặt mà đi, bịt miệng mà ho.

Cách đây không lâu, tôi có người bạn thân kể cho một câu chuyện. Theo bạn, đấy là chuyện có thật một trăm phần trăm. Vì chính mắt bạn tôi nhìn thấy.

Chuyện thế này: Ngay gần hàng phố Co Xàu, nơi gia đình bạn tôi buôn bán và sinh sống. Có một bé gái mới lên năm tuổi. Bố mẹ cháu đều là người Kinh, mới từ dưới xuôi lên làm ăn. Cháu không hề biết tiếng Nùng Giang. Tự dưng, một hôm, cháu buột miệng nói tiếng Nùng Giang. Đây là âm thổ ngữ vùng giáp ranh biên giới Trung Việt. Rất khó nghe và khó nói. Tiếng nói của người Nùng Giang lúc mềm như nhúng nước. Lúc cương cứng như sừng trâu húc tung tổ mối. Nhưng cháu nói một cách rõ ràng, mạch lạc. Nói trôi chảy. Không sai một âm tiết. Ai đứng gần đấy đều trố mắt ngạc nhiên. Nói xong cháu chạy. Vừa chạy nó vừa bảo: “Tôi phải về nhà ngay với bố mẹ đẻ. Bố mẹ chờ tôi đã năm năm rồi”.

Người bố vội vàng đuổi theo để giữ con mình lại. Hai cha con chạy vòng quanh từ nhà đến Kéo Lồm, từ Kéo Lồm lại về Phja Phủ. Hai cha con đuổi bắt nhau hết cả buổi trăng. Dài chừng ba chục số, mà không tài nào bắt được.

Bạn có tin không? Một người đàn ông hoàn toàn khỏe mạnh, thế mà chạy không nhanh bằng một đứa bé năm tuổi. Chân con bé nhịp nhàng, như bơi trong không gian. Chỉ thấy bóng người nó bay. Cháu thoắt ẩn, thoắt hiện. Lúc thấy, lúc không. Ông bố thở không ra hơi, nói không thành lời. Đứng còn chả vững. Nhưng nỗi sợ mất con làm ông gắng sức mình chạy đuổi. Cuối cùng ông cũng đành bó tay, đứng thở dốc, nhìn đứa con gái bé bỏng. Bóng nó mờ nhòa dần, rồi mất hút.

Một lúc lâu sau, bỗng thấy nó đổ gục ngay trước cửa nhà mình. Cháu hộc lên một tiếng. Máu trào ra đằng miệng. Một vũng máu đỏ lòm, rộng bằng miệng nón. Mọi người hàng phố cùng chạy ào xông đến, bế người cháu lên. Thì trời ơi! Cháu đã nhắm mắt tắt thở. Mọi người đứng đấy như cột mọc. Không ai giải thích nổi, vì sao lại thế, vì sao nó thế.

Mỗi năm đôi lần được nghỉ, tôi tranh thủ về thăm nhà. Cũng câu chuyện này, tôi đã được nghe mọi người kể đi, kể lại nhiều lần. Tôi đều để ngoài tai. Bởi người dân quê tôi hay thêu dệt, đơm đặt, gộp chung gọi là “sáng tác”. Những lúc họ đi làm đồng mệt mỏi, nhất là lúc nhàn rỗi, người nông dân vẫn kể cho nhau nghe. Kể chuyện vui. Có. Chuyện tục tĩu. Có. Chuyện ly kỳ. Có. Chuyện gì cũng được, miễn sao mọi người tiêu tan cơn buồn ngủ. Bán cái mỏi mệt cho giời. Cất cái nặng nhọc đời thường. Cười lên cho sướng tai mát bụng. Đơn giản vậy thôi.

Có nhiều chuyện, mà hồi xưa cha tôi kể, nghe còn dã man, rùng rợn hơn nhiều. Tôi đã quá quen với môi trường sống pác lẻp (nói phét) này rồi. Nhưng đến lượt bạn tôi – một người mà ngay từ nhỏ, đã có lối sống cực kỳ nghiêm túc và mực thước – kể lại, tôi mới thực sự giật mình.

Chuyện này khiến ruột gan tôi bỗng cồn lên như kiến bò. Hồi còn là học sinh trung học, tôi có một người bạn, nhà ở tận Lũng Đính thuộc xã Đình Phong. Bạn ấy học giỏi đến mức, ai cũng nghĩ là thần đồng. Mọi người kể rằng, trong một cơn mơ, bạn đã giải xong bài toán vì sao ∏ = 3,14. Lập tức, có người nói nhà bạn ấy bị ma gà, nên mới giỏi như thế. Trời!

Ba bốn chục năm sau này, và ngay cả bây giờ, tôi thấy đời sống bạn tôi vẫn bình thường, như mọi người khác. Những câu chuyện đồn đại về bạn có ma gà, hình như đã lắng xuống. Khi gia đình bạn ấm êm, hạnh phúc. Vợ chồng hòa thuận. Con cái trưởng thành. Bạn tôi có căn nhà riêng năm tầng trên mặt phố. Nghe đâu, bạn tôi sắp được điều ra tỉnh, để phụ trách một ngành lớn và quan trọng. Tôi thực sự mừng cho bạn.

Người xưa nói: “Nhân cường (thì) ma nhược”. Tôi tin điều này hơn. Câu chuyện bạn tôi vừa kể, như bỏ thêm thìa đường cho vào trong cốc nước trà. Một cơ thể khỏe mạnh, không bao giờ người ấy có ma gà. Một gia đình hạnh phúc, con cái đề huề giỏi giang, làm ăn năm sau phát đạt hơn năm trước, dứt khoát gia đình ấy không thể có ma gà. Vì ghen ăn tức ở, người đời muốn thổi cái xấu xa. Mặc sức để người ta đồn thổi. Có như thế mới gọi là thói đời tệ bạc.

Nhưng, chợt nghĩ lại, tôi thấy họ nói: Mọi chuyện đều có thể. Tôi mới ngớ ra…hình như điều này… Thôi, mặc kệ cuộc đời.

Bơm kim tiêm rải trắng nương ngô

Vài năm gần đây, làng tôi hầu như nhà nào cũng sắm được xe máy, điện thoại di dộng. Tất nhiên đều là hàng Tàu hoặc hàng nhái. Trong nhà ai cũng có tivi. Thậm chí còn có nhà sắm được tủ lạnh, lò vi sóng. Ra đường, không còn người mặc quần thủng, áo vá. Đình chợ lúc nào cũng có thịt lợn tươi, gà vịt mổ sẵn bày bán. Cam, quýt, táo, lê mặc áo lưới, bò tràn ra lòng đường. Hàng hóa, quần áo, vải vóc chất cao ngất ngưởng. Người ra người vào tấp nập nhộn nhịp. Đây mới chỉ là ngày dưng. Nếu là ngày chợ, mật độ người và hàng hóa tăng gấp nhiều lần như thế.

Tôi có thằng cháu đang hái rau lợn ở ngoài ruộng. Nó chủ động gọi điện thăm hỏi tôi. Hai chú cháu buôn dưa lê từ Lũng Thàn đến Sài Gòn. Lời đi, lời về, mất đến gần nửa tiếng. Tôi ái ngại. Tiền đâu mà phung phí thế. Nó cười cười: “Chú ơi! Chỉ cần móc từ trong đất lên một hòn quặng, tiêu thoải mái rồi.”
À thì ra vậy. Tôi chợt nhớ, hồi về quê mừng thọ người chú ruột tám lăm tuổi, quặng măng-gan chất đầy thành đống. Những hòn quặng to như cái nồi gang, vứt lăn lóc trước sân trâu bò. Tôi nghĩ, chắc cháu nó lấy về xây làm hàng rào. Hàng rào bằng đá thì không bao giờ mục. Nó che chắn trâu bò, lợn gà khỏi phá cây ngô, cây lúa, cây rau xanh và cây ăn quả, đâu có lạ. Người dân quê tôi có kỹ thuật xây đá hộc thuộc loại nhất nhì trong huyện. Ai ngờ, đống quặng trước nhà nó là một khoản tiền không nhỏ. Quặng gom về, cứ nằm chờ phơi dưới mưa nắng. Các công ty tư nhân dừng chân hỏi mua, được giá nó bán, bốc quặng lên xe. Thế là có tiền tươi thóc thật. Mỗi kilô quặng bán được từ ba ngàn đến bốn ngàn. Một tạ. Một tấn. Vài chục tấn bán đi sẽ bấy nhiêu tiền. Có đứa trẻ dù lên năm lên mười, nếu chịu khó đi mót, chúng cũng kiếm được ngày tiền trăm bỏ túi.

Mươi năm nay, quặng Tốc Tát, Khuổi Ki, Hiếu Lễ, Tà Than, Thông Huề… kìn kìn vượt biên bán sang Trung Quốc. Ruộng rẫy bị bốc dỡ, đào bới. Đất đai nham nhở, lở lói như trên Mặt trăng. Thử làm một con tính, mỗi năm có đến cả ngàn tấn quặng bị đem bán như cho. Từ năm 1980 đến nay, ta đã làm mất đi biết bao tài nguyên khoáng sản. Nói mất thì không phải, người dân quê tôi vốn nghèo, quanh năm đầu tắt mặt tối mà vẫn chẳng đủ tiền cho con ăn học. Mỗi tháng đến kỳ nộp năm ngàn, mười ngàn tiền điện, mà họ còn bó tay. Nay bỗng dưng cuốc quặng đếm tiền. Một sự lên đời trông thấy. Nhanh chóng như trong giấc mơ vàng.

Có tiền, người ta cười nói oang oang. Có tiền, người ta xem trọng hay khinh nhau qua cái ví. Có tiền, người lớn bày trò đánh bài, đánh chắn. Thanh niên đi quán net chơi game, hay chọc bi-a. Tệ hại hơn, chúng phóng xe ra ngoài bờ rừng để chích choác. Bơm kim tiêm rải trắng nương ngô. Chưa bao giờ cái chết lại hiện hình rõ ràng ngay trước mặt. Khi thuốc bắt đầu phê, không làm chủ được tay lái, chúng phi cả người lẫn xe xuống vực. Nếu bị chết, những người đi đường cho một câu tăm tối: Đáng đời! Nếu may còn sống, chúng cũng bị nhân viên bác sỹ ở Bệnh viện gườm gườm nhìn với con mắt ghẻ lạnh. Đấy là sự kỳ thị, sự vô cảm của người cùng một làng. Chao ôi! Có cái gì làm tôi hoa mắt, chóng mặt. Đã đành, chúng là những con nghiện. Rất đáng bị chê trách. Nhưng chúng cũng là con người. Con người lúc thế này lúc thế khác. Nhất là đối với bọn trẻ. Cái lứa tuổi ngông cuồng và rồ dại. Chẳng ai nắm tay qua đêm. Chẳng ai nhìn thấy gáy của mình. Sao người lớn chúng ta có thể lạnh lùng, trước sự lầm lạc của con trẻ. Nếu chúng là con đẻ, cháu ruột của mình, các vị nghĩ gì?

Còn đây nữa, một thực trạng đáng buồn. Chẳng hiểu vì sao, trẻ con trong bản thuần Tày mà không thèm nói tiếng Tày. Chúng được bố mẹ dạy tiếng Kinh từ khi tập nói. Chào “bó” ! Ăn “cươm chơ” “Phào uống nấc đá”. Nghe thấy thế, tôi đứng tim. Một luồng gió lạnh buốt thổi tê lên da thịt. Buồn như cha chết. Do đâu mà người trẻ quê tôi tự ti đến mức muốn quên ngay, quên lập tức, nguồn gốc dân tộc của mình. Hay vì một lý do nào khác? Bây giờ ai ai cũng có nhiều tiền? Sang trọng rồi. Đổi đời rồi. Sắp sửa nhân loại hóa đến rồi. Phải học nói tiếng Kinh mới sang? Có Trời biết! Không! Có người biết! Đó là những người làm công tác văn hóa. Nhưng họ không có quyền lực sai khiến bắt mọi người phải nói tiếng Tày, mặc áo chàm. Chẳng ai thay ai được. Có thể giúp nhau khiêng cột nhà. Giúp nhau vác đất. Giúp nhau bất kể. Nhưng tôi đố ai cười khóc thật lòng, giúp cho người khác. Làm mất bản sắc văn hóa, là một tội ác. Tội ác hơn cả Hítle, Pônpốt.

Đây này, người làng thi nhau bỏ nhà sàn, làm nhà đất. Đưa mặt tiền hướng ra đường đi. Chỉ nay mai thôi, đường làng sẽ biến thành phố xá. Phố xá sẽ mang tên người anh hùng hoặc danh nhân làng ta. Mở quán, bán hàng là cách đón đầu đi tắt. Trông người nhà quê là đà lù đù thế thôi, nhưng họ khôn ra phết. Đừng tưởng. Hàng họ bây giờ, tạm thời dăm bảy gói bim bim, vài ba chai rượu nhạt. Mấy gói mì ăn liền. Ba xoa hai đập, các vị Thượng đế co chân lên ghế. Phì phèo khói thuốc đắng. Người ta chõ mặt vào nhau mà xỉa răng. Người ta đưa tay vuốt nước miếng, như lau sự sung sướng. Sung sướng đâu không thấy, chỉ thấy nước mắt vô cớ rò ra sau cơn ho. Ba gian nhà xây đá hộc bốc lên mùi khét lẹt. Họ xài thuốc lá rởm. Thế rồi, vũ trụ với thiên hà cứ sóng sánh đục trong, trào ra chiếc chén tống cóc gặm. Chỉ một với nữa thôi là tay chạm đến Trời.

Các con cháu, anh em họ mạc tôi, hầu như ai ai cũng hăng hái chăm chỉ ghi chép. Sổ sách con năm, con ba, rõ ràng mạch lạc. Chính xác đến từng dấu phảy. Thấy lạ, tôi đề nghị cho xem. Họ cười bảo rằng đây là sinh hoạt “văn hóa xã hội”. Cô em dâu thì thào vào tai tôi. “Đề đấy. Cả bản đánh đề. Bác đừng nói gì nhé. Nhà em nuôi con bốn tám mất mười một triệu rồi. Nhỡ mai không trúng nó bảo tại bác săm se. Bị ám. Xúi. Nó không gì bác bây giờ đâu. Nhưng mai bác đi khỏi nhà. Nó nghiến vào theo vía bác. Nó tiểm nó xỉa vào bóng bác. Đừng có dại mà…”

Nghiến răng vào vía. Tiểm xỉa chém tỉa lên bóng người! Nghe nói đó là một môn võ bí truyền lâu đời ở vùng mình. Bây giờ tôi mới biết đích xác là có thật, chứ không phải đưa ra dọa dẫm đe nẹt nhau. Lúc bị tiểm xỉa chém chặt, người bị hại chẳng hề thấy đau đớn. Đương nhiên không biết ai là người thủ phạm. Chỉ ba tháng sau, người bị hại ho ra máu. Uống bất cứ thuốc gì vào người, cũng không khỏi.

Thủ phạm giết người không dao, rất có thể là một ông hoặc một bà. Họ là lão nông tri điền. Ngoài mặt trông hiền lành phúc hậu, nhưng trong lòng họ luôn bất an và nuôi những mối hận thù không rõ lý do nguồn gốc. Trong buồng ngủ, họ nuôi một con vật. Có thể là một con cóc, hoặc con gà trống thiến sót. Đôi khi là một con ong đất. Những con vật này, quanh năm không được phép thấy ánh sáng. Nó bị nhốt trong một chiếc chum. Miệng chum bọc một tấm vải màu đỏ. Trong chiếc chum này có vía. Vía những cô gái còn trinh, chẳng may bị chết đường, chết chợ. Họ đầy oan ức, nên muốn trả thù đời. Ai sinh ra có số mệnh dưới nửa chinh vàng, phải nuôi con vật đó. Họ mới hòng sống sót tới già. Còn điều này mới khủng khiếp. Càng hại được nhiều người, thì năm đó nhà ấy phúc càng dày, lộc càng lớn.

Ôi! “văn minh” ngày nay đã về đến thôn bản. Quê tôi cách Thủ đô hơn ba trăm cây số đường đất. Vậy mà có biết bao câu chuyện xảy ra rùng mình. Một khi, người có văn hóa mét mốt, bỗng dưng may mắn dồn dập ập đến. Phút chốc họ có tiền nhiều. Thật nhiều tiền. Có tiền mà chả mất công sức. Chẳng khác gì giao cho thằng điên một khẩu súng AK, nạp đầy đạn.

Mỗi lần về quê, thấy nhà cao cửa rộng, thấy đường đi phẳng lỳ, sạch bong thì đừng vội vàng mừng. Trẻ con, thanh niên bỏ học. Chúng đua nhau đi kiếm tiền, đi bán mua dâm. Thanh niên nhiễm HIV, chuyển dần sang giai đọan cuối. Trai tráng lần lượt ra đi, vãn cả phố, thưa cả làng. Ông già bảy tám mươi lầm lũi khiêng đòn. Họ vô cùng đau đớn, phải mang con cháu mình đi chôn xuống dưới đất. Bà già bảy tám mươi, còn tất bật chân tay nấu bếp. Rặt đàn bà con gái, họ phải còng lưng nuôi mấy cái miệng bô lô ba la. Thật không thể hiểu nổi. Thời này là thời gì?

Giếng chàm xanh như ngọc

Vào những ngày này, ở làng Hiếu Lễ của tôi, giếng ngâm chàm của nhà nào cũng có màu xanh như ngọc. Đây là thời kỳ cây chàm chuyển từ xanh lá mạ, sang xanh sẫm. Nó bắt đầu no màu lục, trĩu cả người xuống rồi. Nếu để quá đi, chàm sẽ bị rụng lá. Để chàm rụng lá coi như tự mình làm mất mùa. Mất mùa chàm, lấy gì nhuộm vải? Thế nên, mọi người, mọi nhà giục nhau lên rẫy chặt chàm từ mờ sáng. Hái vào lúc mặt trời chưa mọc, nhựa chàm chưa bị phát tán. Quãng thời gian này là tốt nhất.

Họ bỏ nguyên cả cây chàm mang xuống giếng, đùng đá tảng đậy điệm cẩn thận, xong xuôi tháo nước vào ngâm. Ngâm độ vài ba ngày, lá chàm sẽ bị nước phân hủy, lắng xuống thành cao. Tháo phần nước loãng đi, chỉ giữ lại cao chàm. Cao nằm dưới đáy giếng, đặc sánh như hồ dán. Người ta múc cao, vét sạch giếng, bỏ vào chum để dùng dần. Còn cành xương thì vớt lên, đem phơi khô, mang về làm nòm nhóm bếp.

Khói bếp có mùi chàm, gây cay chảy cả nước mắt. Mùi khói chàm bay lan ra đến đâu ruồi, muỗi, dĩn, gián, chuột chù bay biến sạch. Có lẽ vì thế, hồi xưa quê tôi có rất ít loài côn trùng và động vật gây hại.

Mỗi giếng chàm có đường kính từ một thước rưỡi đến hai thước tây. Giếng nào cũng sâu ngang ngực. Giếng có từ những ngày dân tứ chiếng bát phương đến đây khai hoang lập làng.

Nhìn những vết đục trên mặt đá, biết tay nghề của các bậc tiền nhân vụng, thô sơ, mộc mạc. Nhưng tình cảm của họ đối với mảnh đất này vô cùng sâu sắc, thân thiết.

Hãy sờ tay lên đá. Tay lần đi theo ròi theo rãnh mà nghe đá nói. Đừng nghĩ đá khô cứng, thô nhám, lạnh lùng. Đá tự hào không ai yêu làng này bằng mình. Người có chân đi đông, đi tây. Đá không chân, đá nằm, đá ngồi, đá quỳ, đá chồng lên đá đứng lại. Đá trông ruộng vườn. Đá canh mồ mả ông cha cho người. Đá nhìn ra đầu làng, mong có người lần lượt trở về. Đá mong chờ người thân. Từ khi bì đá còn màu đen, nay đã nhạt dần. Đá biến thành màu xám. Mà nào có thấy bóng dáng người làng. Người làng còn bận việc gì chưa quay trở lại.

Những ông già bà cả kể về các dòng họ, chúng tôi nghe mãi, nên ai ai cũng thuộc làu. Họ Đàm có nguồn gốc Cai Phạ. Còn họ Hứa, người Nùng Inh. Cai Phạ với Nùng Inh là tộc danh hay địa danh? Chịu. Chỉ biết đại khái đến thế. Mười ba mười bốn đời rồi còn ai nhớ nổi. Tất cả đều từ bên kia biên giới kéo sang. Họ Đàm nhanh chân tới trước, nên được làm anh chị. Họ Hứa đến sau, phải chịu phận làm em. Đây là hai dòng họ lớn nhất làng Hiếu Lễ. Kẻ trước người sau, ở đây định cư đã được vài trăm năm có lẻ.

Từ rất lâu, họ tự nhận mình là dân tộc Tày. Tại sao gọi là Tày. Có người nói đây là cư dân cày ruộng. Với nhóm cư dân này, nghề cày cấy lúa nước có từ rất sớm.Trong tiếng Tày, gọi cái cày là thay. Người cày ruộng là gần thay nà. Người cày trở thành tộc người Tày. Tộc danh Tày, được biến âm từ chữ Thay mà ra.

Cánh đồng ruộng lúa Bo Thang, Bo Ít rộng lớn kia, là mồ hôi nước mắt, là tài sản vô giá mà họ để lại. Cánh đồng ấy cứ hai phần đất có một phần đá. Đá với đất tác động hình thành tính cách người. Cương nhu là hai mặt đối lập, nhưng thống nhất. Chúng bổ xung, tương hỗ cho nhau. Đá đứng giữa mênh mang đồng nước. Đá ngồi vững chãi trên mặt đất. Đá nằm ngủ trong bùn. Con người cũng vậy. Họ gắn bó cả đời với ngôi làng này. Từ lúc sinh ra đến khi từ giã cõi đời. Đất đá nơi đây từng nuôi họ sống, ôm đắp khi họ chết. Nên chẳng ai muốn đi đâu xa. Đi xa chắc sẽ có đất đai màu mỡ, dễ dàng trồng cấy. Cây rau cây lúa tốt tươi, người chẳng mất nhiều công chăm bón. Nhưng họ không chịu. Họ nhớ đất này. Đất này có một phần mồ hôi muối hòa tan trong đó.

Người làng tôi cho rằng: Giàu nghèo đều tự mình gây dựng. Đất đai làng Hiếu Lễ là giả cúng giả ké, người mẹ già. Người mẹ già này là của chung. Ai biết làm sẽ trở thành giàu có. Ai lười biếng ham chơi sẽ trở thành cao wóa nghèo khó. Giàu có hay nghèo khó họ đều đùm bọc, nuôi nấng và dạy khôn cho nhau.

Bây giờ có ai nói dốt như bò, thì tôi kiên quyết nói lại. Dốt như người. Bởi người ăn hạt thóc. Hạt thóc nhọn cả hai đầu. Đầu nào cũng thông minh sáng láng. Con người ăn cái sáng láng thông minh, sao người có thể tăm tối, ngang bướng, vô lễ với người lớn. Bất hiếu với cha mẹ đẻ. Phản thùng bè bạn. Đốt xác người yêu chỉ vì ghen tuông. Thậm chí có người còn quên cả mồ mả, quê hương giống nòi, quay lưng với người làng, với cộng đồng dân tộc. Đây chỉ là những con sâu. Vì vậy, xin đừng gọi hạng ấy là người.

Cha tôi nói: Con thử gõ lên bờ đá giếng chàm làng mình mà xem. Nếu nghe tiếng kêu nó đục, biết ngày mai mưa. Nghe tiếng trong, ắt ngày kia sẽ nắng. Nghe tiếng thanh, biết trong làng mình sắp có người sinh em bé. Nghe tiếng trầm, có người già ốm nặng, nay buộc phải về trời.

Giếng chàm làng tôi ít ai ngờ, nó lại có khả năng tiên đoán. Dù cả đời lặng im, giếng chàm thăm thẳm, hun hút, mà hiểu được con người. Chả hiểu vì sao, ngày nay, người làng tôi ít sửa sang chỉnh trang lại giếng chàm. Để cây cỏ hoang dại mọc tùm lum, tà la như râu ria người bất mãn. Kể từ ngày có vải mậu dịch bày bán, không còn ai trồng bông dệt vải. Người làng ai ai nói từ nay hết khổ rồi. Mẹ tôi kể, làm ruộng không mất nhiều công sức bằng làm vải. Trồng bông dệt vải phải qua rất nhiều công đoạn. Công đoạn nào cũng đòi hỏi phải tỷ mỷ, kỹ càng. Đây là thứ làm ấm, làm đẹp, là công phu nhất. Bây giờ không còn làm vải, trồng chàm để làm gì. Con người ngày nay sao lười vậy nhỉ. Chỉ thích ăn sẵn.

Trông kìa, ở đáy giếng, nước đọng đỏ hoe như khóc. Giếng chàm ơi!

Lận đận tình… đuôi cong!

Lạ thế chứ! Tết Hạ chí nhằm đúng vào ngày nóng nhất, trong tháng nóng nhất của năm. Những người dân quê tôi lại tổ chức kin co. Đó là hình thức đụng thịt chó. Đụng thịt chó vào thời tiết nóng bức khủng khiếp như thế này kể cũng lạ. Thịt chó vốn tính nhiệt. Nắng tháng năm cực nóng. Ớt cay gặp nắng, càng nóng. Rượu quê, nhìn thấy đã nóng. Chứ chưa kể uống cái thứ đốt cháy gan cháy ruột vào người.

Mấy cái nóng bức, hợp lại, liệu có làm nên cái phí phí mát mẻ? Vậy mà suốt cả mười một tháng ròng, không ai màng đến món cầy tơ bảy món. Nhưng cứ đến tết Hạ chí, họ lại rủ nhau đi khắp làng, lùng mua chó, lôi về xả thịt.

Theo cổ nhân, người Tày xem thịt chó là thức ăn dơ dáy, uế tạp. Không ai bày và được phép cúng tổ tiên bằng thịt chó. Đây là cái tết biện ra để đánh chén. Trong nhà chỉ có thắp hương, bày bánh gio, đĩa hoa qủa cúng tổ tiên. Gọi là tết cho nó mặn, khác ngày nhạt một chút. Có vậy thôi.

Cả năm chỉ có một ngày được ăn thịt chó. Người biết cách chế biến, họ nhìn chó ra món nhựa mận, món dồi, món luộc, món nướng… Nhưng ngon nhất theo tôi, vẫn là món thập cẩm ninh nhừ với lá mác mật, nghệ vàng. Nồi thịt chó ánh lên màu mật ong sánh đặc. Gắp miếng thịt đằm xuống, cong cả đôi đũa. Nước thịt són thành giọt, làm xuýt xoa cái nhìn. Mùi nước thịt xực thẳng lên sống mũi. Đánh mạnh vào khứu giác. Khứu giác truyền xuống đến dạ dày. Dạ dày thúc lên nước miếng. Nước miếng không nín, được bèn rủ nhau trào ra khóe miệng. Người ta kín đáo ngoảnh mặt đi, nuốt nước bọt, làm một nhát. Ực!

Trời ơi! Ăn cái giống ấy vào người không những ngon ngọt mà còn bổ dưỡng. Thịt chó vốn lành, giàu hàm lượng đạm. Tôi thấy ở ngoài chợ Co Xàu, có nhà chuyên nuôi gái đẻ bằng thịt chó. Các mẹ trẻ nằm bếp, buộc phải ăn món mộc tồn, suốt ba chục ngày ròng. Thế mà không ngán. Ra tháng, nước da mẹ cu tý hồng hào bóng bẩy. Bầu vú mọng, tròn căng như hai cái bát sứ. Hai núm vú túng tính, cứng ngắc như hai nụ tầm xuân. Tôi thấy họ không có vẻ gì sồ sề. Ngược lại, họ rất sexy và bắt mắt. Vận động viên bóng đá cấp huyện trước khi thi đấu cũng được nhà bếp cho ăn thịt chó. Chạy cả buổi mà không thấy mỏi mệt.

Người Việt mê thịt chó đến mức, đúc kết thành câu châm ngôn “sống ở trên đời ăn miếng dồi chó”. Người Hàn Quốc họ cũng thèm thịt chó. Nhưng chế biến theo cách riêng của họ. Thịt chó thái miếng to dày, bằng hai ngón tay. Họ tẩm ướp gia vị, mang lên lẩu nướng. Bốn người một mâm. Họ ngồi ăn thịt chó một cách ngon lành. Gắp cả tảng thịt cho vào miệng. Nhai ngấu nghiến. Nước thịt tứa ra hai bên góc miệng. Họ dùng ngón tay vuốt, liếm sạch một cách công khai. Cứ mỗi suất kèm một bát nước sốt cary. Nghe họ húp canh “rột” một tiếng. Cay ới là cay, thế mà ăn một cách gọn ghẽ và còn tỏ ra rất sướng.

Từ xa xưa, người Tày chúng tôi kiêng ăn thịt chó. Ông cha chúng tôi quan niệm, chó là bạn trung thành nhất của con người. Khuyển mã chi tình. Một thứ tình cảm sâu nặng, bắt nguồn từ lòng tận tụy cúc cung phục vụ của loài chó. Chúng giúp người một cách đắc lực. Chúng canh chừng và chống trộm cho nhà chủ. Chưa kể đến những chú chó chuyên săn bắt chuột đồng. Loài chuột phá hoại mùa màng, không biết thế nào mà lường. Nếu không có chó, cả đám ruộng chỉ còn trơ lại rơm và những hạt thóc lép. Nhờ có chó, mà gà mái yên tâm dẫn đàn con ra ngoài vườn kiếm ăn, không sợ bị cáo vồ. Chủ ở đâu, chó đứng bên chân chủ. Chủ có việc phải đi xa nhà. Chó chạy theo đưa tiễn. Tiễn chủ đến cuối huyện, nó mới chịu lủi thủi quay đầu trở về nhà.

Cha tôi kể chuyện, nhà kia có hai anh em mồ côi. Người em tham lam, nhận hết trâu bò, ruộng vườn về mình. Người anh hiền lành, chẳng được chia chác gì. May mà người em còn sót lại chút tình ruột thịt, xí cho anh trai một con chó cái.

Người anh mang về chăm bẵm chó như con. Một hai năm sau, chó đẻ thêm nhiều lứa. Mấy năm sau, người anh có một đàn chó. Con nào con nấy to béo núc ních. Người anh mang chó ra đồng thử. Bắt chúng kéo bừa, rồi kéo cày. Hai mươi con chó xiên xẹo, vẹo vọ kéo cày giúp chủ vỡ đất hoang làm ruộng.

Một hôm, có gã lái trâu mặt choắt, mắt ti hí đi ngang qua. Hắn là Mào Pác Gạm. Gã trông thấy thế, bèn cười giễu: “Nếu dùng chó mà cày xong thửa đất này, tôi đổi cho bác cả đàn trâu.” Người anh chẳng thèm để ý, cứ cặm cụi cày hết đám này sang đám khác.

Gã lái trâu Mào Pác Gạm vô cùng kinh ngạc. Hắn bèn trao lại đàn trâu to béo, múp míp, lôi đàn chó đem về. Rồi từ đó, người anh trở nên giàu có. Lúa má để chật nhà, tiền bạc cho vào chum như nước.

Đấy là một câu chuyện có hậu. Nhưng hồi đó tôi vẫn tin là điều có thật.

Còn câu chuyện cảm động khác về loài chó. Khi chủ nhà chẳng may bị chết, con chó tru lên tiếng khóc. Hai mắt nó đỏ hoe ướt nhòe. Cái đuôi rủ xuống. Nó cúi gằm mặt, không muốn nhìn ai. Mấy ngày liền chó không ăn cháo, không uống nước. Nó nằm bên cạnh mộ chủ. Nằm bất động mười mấy ngày liền, chờ đến khi nó kiệt sức, nó tắt thở. Thế là chó được chết theo chủ. Xác nó bị mối đùn. Đống đất do mối đắp, tự nhiên trở thành một ngôi mộ nhỏ. Thế là hồn vía chó được toại nguyện. Nó đã được lên thiên đàng cùng với chủ.

Tôi trộm nghĩ, con chó cũng có thể được chọn làm biểu tượng của sự thủy chung. Tục ngữ người Việt và cả người Tày đều có câu “con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nghèo”. Quả không sai.

Bà nội tôi kể, ngày xửa ngày xưa có một thời, loài người phạm vào điều gì đó rất trầm trọng. Nhà trời đùng đùng nổi giận. Ngài bèn sai thần sấm, thần mưa, nghiêng sông Hằng đổ nước xuống trần gian. Quyết hủy diệt bằng hết loài người giả dối, tham lam vô độ. Toàn một lũ quan lại ngu dốt, độc ác. Chúng ăn từ đất dưới dép ăn lên. Ăn hết cả phần đời đời con cháu.

Thế là năm ngày năm đêm, đất trời tràn ngập trong màn mưa. Nước lũ đã nhấn chìm hầu hết khắp các làng mạc. Người và muôn súc vật đều bị nước phăng phăng cuốn trôi về Hác.

Làng chỉ còn sót lại một người đàn bà góa duy nhất. Đó là người đàn bà hiền lành và tốt bụng. Được nhà trời ra tay, đặt bà lên một mỏm núi đá cao chót vót. Bà cố gắng ôm theo một con chó đực. Con chó đực trở thành bầu bạn, thành điểm tựa tinh thần tin cậy duy nhất của bà. Ngày này qua ngày khác, một người và một chó sống chung giữa một vùng nước trắng băng. Bèo lục bình, cây khoai mon, củ chuối, rác rưởi từ đâu tràn về. Người đàn bà vớt tất cả những thứ đó đem lên đỉnh núi. Rác mang phơi khô làm chất đốt. Bèo với khoai môn đem nướng chín làm thức ăn. Thế là họ sống được ngày này qua ngày khác.

Tròn một tuần trăng khuyết, nước vẫn chưa chịu rút. Thêm hai ba tuần trăng nữa, nước bắt đầu rút xuống dần. Đến ngày nước cạn, chỉ trơ lại bùn đất, đá sỏi và xác cỏ cây.

Đó là vùng quê mà ngày nay chúng tôi đang sinh sống. Khi ấy, nơi đây hoang vu, đỏ quạch và thối rữa. Nhưng rồi cỏ cây cũng bắt đầu đâm chồi nẩy lộc. Chim chóc bắt đầu lần lần tìm về. Người với chó loanh quanh ăn ở cùng nhau. Dần dần chó và người nghiện hơi, thèm tiếng của nhau. Bỗng một ngày, người đàn bà sờ tay lên bụng. Bà thấy trong mình lùm lùm một núm thịt. Trời ơi! Niềm sung sướng rơi xuống mặt người đàn bà, nhàu nhĩ cô đơn, một rừng hoa. Bà góa đã có thai với con chó đực.

Bà tôi chỉ kể đến đó rồi thôi. Cho đến một ngày, bà lên nằm hẳn trên mường trời. Từ đấy đến bây giờ, tôi cũng chưa hề được ai kể tiếp câu chuyện người và chó.

Ở vùng Tày Nùng, những người hành nghề mo then bụt tào tuyệt đối không được phép đụng đến thịt chó. Thậm chí họ còn phải kiêng nói đến chó. Khi mở miệng, người ta phải nói xa xa “Tua thang kho” con đuôi cong. Chứ không được gọi chó một cách thông thường. Ai là con nhà thày tào, vì đã trót làm một miếng “mộc tồn”để biết mùi, lập tức bị đức thánh giận. Ngài làm cho kẻ háu ăn bị một phen méo miệng. Không những thế, còn làm cho tiếng đồn nhà kia mất thiêng.

Cứ mỗi dịp đến ngày Hạ chí, là tôi lại nhớ đến hình ảnh của con chó Đốm hoa. Con chó chơi thân với tôi từ nhỏ.Tôi với Đốm hoa như hình với bóng. Cứ nhìn thấy tôi là Đốm hoa vùng vằng chạy đến. Mũi nó hít từ ngón chân đến thắt lưng. Lưỡi nó liếm từ gấu quần đến lai quần. Còn cái đuôi thì ngoáy tít mù . Nó mừng rỡ. Nó reo lên khăng khẳng như người thân xa nhau lâu ngày, nay gặp lại. Tôi đi một bước, nó theo liền mấy bước.

Ngồi trong lớp học, tôi bí mật cho Đốm hoa ngồi cùng. Bị thày giáo phát hiện. Thày đuổi nó ra ngoài. Tôi xin thày mỏi miệng, nhưng vẫn không được. Tôi đứng phắt dậy, lẳng lặng bỏ luôn tiết học thuộc lòng về nhà luôn cùng chó. Ba bốn lần như vậy, thày giáo đành phải chào thua. Cho phép tôi mang chó theo vào lớp. Và hình như thày giáo có ý kiến với gia đình. Mẹ tôi đồng ý bán Đốm hoa cho mấy ông trong làng làm thịt.

Đó là năm tôi mười hai tuổi. Trong lúc tôi đi học, ở nhà người ta đã tìm cách lừa con Đốm hoa vào tròng. Rồi người ta thít cổ nó lại. Ba bốn người đàn ông to uỳnh hè nhau đè con Đốm hoa xuống. Đốm hoa bất lực kêu ăng ẳng. Kêu rối rít. Nó rên ư ử từ trong cuống họng rên ra, để từ biệt mọi người.

Tan học về đến nhà, biết tin con Đốm hoa đã bị mẹ tôi đem bán. Tôi đã khóc. Tôi khóc toáng lên vừa giận mẹ vừa ghét bọn thèm thịt chó. Bốn cái mồm phô cả mấy hàm răng vàng khè, cười cười hềnh hệch. Họ vừa nhổ nước miếng xoèn xoẹt đếm tiền trả cho mẹ tôi, vừa nhìn chó Đốm hoa một cách đắc ý.

Đốm hoa đi rồi, tôi buồn mất mấy ngày. Kể từ đó hễ có ai nói đến Hạ chí là tôi căm tức. Căm tức những người đi lùng khắp làng để mua chó. Họ là người lớn mà làm một việc vô cùng nhỏ bé. Đánh lừa được một con vật, vênh vang nỗi gì.

Họ bất cần biết chó là ai. Và là gì đối với con người. Con người sinh ra đâu phải là để ăn thịt. Người là giống tính hiền chứ không phải giống tính ác. Người sinh ra là để ăn rau ăn củ. Rau củ không biết sợ hãi kêu đau, khi bị mang lên nấu chín. Rau củ không kinh khiếp khi bị mang ra cắt gọt. Rau củ không biết đớn đau khi bị nuốt vào người. Rau củ không làm náo loạn trong ruột già ruột non. Rau củ thấm dần vào từng mao mạch. Ăn rau củ nghĩa là ăn ánh sáng mặt trời. Ăn cái tình của đất. Ăn khí thiêng sông núi. Vậy mà cho đến ngày nay vẫn có quá nhiều người thèm thịt chó. Bất cần biết chó là ai và là gì đối với con người.

Xem tiếp:
Cha mẹ cho ta anh em, Trời cho ta bạn!

Advertisements