* Lồng ấp Trùng Khánh.
MÙA ĐÔNG PHỦ TRÙNG

Y PHƯƠNG

Giữa giấc này, ở làng quê chúng tôi đang vào mùa mưa phùn. Mưa phùn là nét đặc trưng của mùa đông ở vùng núi phía Bắc. Mưa dày đặc như vãi trấu vãi cám. Mưa lất phất như reo hò. Mưa bay cheo chéo theo quán tính. Mưa đi hình vòng cung. Mưa phùn như các bà nhà trời rây bột cho đám trẻ con dưới trần gian nấu ăn bữa sáng. Mưa cả ngày lẫn đêm. Mưa chăm chỉ rơi. Mưa không hề ngủ. Mưa vừa đủ nhớp nháp những con đường đất. Mưa làm bẩn kinh khủng. Mưa phùn bị mọi người ta thán chê trách, thậm chí chửi bới đau cả tai, thế mà mưa không hề biết.* Non nước Phủ Trùng. Ảnh: Đoàn Đức Thành. …

Trời đã cho mưa phùn lại còn thêm sương mù che mắt người ta. Sương mù trôi như mây như băng. Chúng đóng vón thành những bị bông trắng xóa. Bị bông quăng quật lao thẳng vào mặt người, rồi nó bất ra tiếng cười lòa xòa. Sương mù ở chỗ tôi sực nức mùi lưu huỳnh. Cái mùi hăng hắc, ngai ngái. Cộng thêm mùi lá ải sắp thành mùn. Đặc biệt là mùi nước đái khai của cây xau xau mới sinh. Chúng bốc ra cái mùi thật khó ngửi.

Mưa phùn. Sương mù lại kèm theo cái hơi lạnh rìu rịu. Hơi lạnh được thoát thai từ núi đá cũ kỹ, có hàng triệu hàng tỷ năm. Hơi lạnh tự do phì ra tứ phía. Tứ phía toàn là đá răng mèo lởm chởm sắc nhọn. Nên hơi lạnh cắn ngập vào da thịt, cọ vào xương sườn kêu nhèn nhẹt ken két. Nghe ghê răng.

Mưa phùn. Sương mù. Gió lạnh. Ba cái thằng khốn đó tổng hợp lại, đã khiến hai vành tai người chín đỏ. Mắt. Mũi. Tai đông cứng như những cục nước đá. Hơi người thở phả ra phót phét một cách khó khăn. Mồm miệng ngoặp ngoặp mở ra ăn nói cũng có khói nhít nhót ra theo. Còn bàn tay bàn chân tím tái như bị lên giàn than nướng. Những đốt xương bàn tay lòi ra dưới làn da trắng bạch. Trông như củ gừng đẻ ngón. Cực kỳ khó chịu. Khó chịu không thể tả. Nhưng chả biết trốn vào đâu. Đâu đâu cũng rét buốt, tê cóng.

Có như thế mới gọi là mùa đông Phủ Trùng. Nét khác biệt với mùa đông những vùng miền khác, trên khắp nước mình. Điều đó làm cho dân du lịch phương Tây thích thú. Họ đeo ba lô lội suối trèo non, ngắm nhìn biển mây trắng loang như sữa. Biển mây lành rách lững thững trôi đi. Cả một vùng trời dính liền với đất. Dưới trời và trên đất là là tuyết rơi. Tây bảo đây mới đúng người anh em sinh đôi của đỉnh Everets. Rồi họ dang hai tay ôm ghì lấy gió núi và sương mù. Râu ria Tây trắng mốc, họ lấy làm sung sướng quá. Sướng quá họ cười cười bằng mắt. Mà mắt Tây lóng lánh xanh, xem ra dài dại thế nào.

Chưa hết đâu. Tại đấy còn có gió cóng. Gió mài. Gió miết. Gió cọ. Gió liếm láp. Gió thổi từ chân người đến chân rừng. Gió cóng kéo nhau lên tận đỉnh núi. Gió chảy loang một màu trắng đục. Đó mới thực sự là màu của gió núi. Gió núi thổi bằng hết sương muối. Sương muối bay đi, để lộ toàn bộ lá cây lá cỏ một màu xác xơ tàn tạ. Cái màu của chết chóc. Màu chết bao trùm lên những hàng chuối, lũy tre, rừng vầu, vườn quả… Gió làm rụng hết lá non lá già. Thân cành trơ khấc không còn màu tươi xanh non tơ. Đến cả đá cũng đổ mồ hôi hột vì sợ. Nước sông thì cô đặc lại thành một màu xanh lé xanh lè. Cá tôm trần truồng không áo ấm chăn chiếu, con trước rủ con sau chui tọt vào vòm hang sâu để được ấm.

Chỉ còn có con người buộc phải nhúc nhắc ra khỏi nhà. Họ co ro, lom khom, chui chúi đi đi về về. Họ chòang áo bông, áo len, bao tải, chăn rách lên người. Trông họ nặng nề chậm chạm như những cái cối đá. Những cối đá nhọc nhằn vừa đi vừa ho. Người thì ra đồng bốc rơm khô mang về cho trâu ăn. Người đi gánh rạ đem về lót ổ. Người nằm trong ổ rơm rạ, hơi ấm được mùa vàng giữ lại. Hơi ấm không mất đi đâu, lại được êm dịu cả thân xác.

Tôi còn nhớ, ở Phủ Trùng vào những năm 60 của thế kỷ trước, có tuyết rơi. Tuyết từ đâu nhầm đường lạc về. Sáng ra đầy trời một màu trắng. Tuyết đóng thành băng trên cành cây lá cỏ. Tuyết dày thành từng lớp như miếng kính, bắc trên mặt sông mặt suối. Da chân da tay trẻ con người lớn đều bị nứt nẻ. Những vết nứt lây nhau đưa lên đầy mặt. Há miệng cười mà không được, vì đau. Người ta phải ngâm chân tay thật trong làn nước ấm. Da thịt người lạnh ngắt gặp nước ấm, ngứa râm ran như phát ban. Hồi đó dân tôi còn nghèo. Trong nhà, rất ít người có đồng bạc qua đêm. Cha luôn dặn dò chị em tôi. Đói không chê cơm nguội. Rét không chê áo rách. Nếu thấy rét quá hãy mang củi ra mà bổ. Bổ củi cho ấm người, vừa có cái để đun. Tôi thầm phục cha, chỉ cần làm một việc mà có lợi đôi ba đàng.

Những ngày này, trong nhà ai ai cũng phải có lò phầy. Có nơi có người gọi bằng lò ho, hay thúng ho. Còn người trong phố Co Xàu gọi bằng lồng ấp. Hai tiếng lồng ấp thấy có vẻ chính xác hơn. Đây là vật gia dụng, đựng than hồng chống rét, do cha ông người Tày sáng tạo. Và hình như nó chỉ xuất hiện ở Phủ Trùng này thôi. Dù đâu đó cũng giá lạnh tê cóng như thế này, nhưng họ không có thói quen dùng lò phầy. Người ta còn bảo đã thử một lần, rồi đâm ra nghiện. Nghiện sức ấm nóng. Thế mới lạ. Nghiện thì không bỏ được. Đeo lò phầy vào người thì đâu còn tay nào để làm việc. Hóa ra họ coi trọng công việc hơn giữ gìn sức khỏe. Không biết họ khôn hơn hay người quê tôi khôn hơn.

Ở Phủ Trùng này người ta đan lấy, hoặc mua ở ngòai chợ Co Xàu. Lò phầy giá rẻ chỉ bằng mười ống gạo nếp. Mười ống gạo nếp mà được sướng suốt một mùa đông. Có đáng gì đâu. Nên, nỗi người có một cái lò phầy để sưởi càng tốt. Nếu không đủ, thì nhường cho ông già bà cả. Họ cần được sưởi ấm nóng hơn lũ trẻ. Thân nhiệt người có tuổi, nay đã suy giảm nhiều rồi. Họ cần được ưu tiên.

Lò phầy đan bằng tre trúc. Nó bầu bầu ở miệng, thắt eo ở lưng, loe rộng ra ở đáy. Lò phầy có quai đeo. Người ta cho hai tay vào quai, vừa đeo vừa sưởi. Bên trong lò phầy đặt chiếc bát sành nung già để đựng tro lót và những cục than hồng rực. Đeo lò pầy mà đi trong đêm tối trời, mới lung linh làm sao. Khi gặp gió, những hạt lửa bắn ra làm sáng bừng cả người. Lắm khi còn nhìn rõ mặt mũi. Lò phầy đi tới đâu, tiếng e hèm tới đó. Báo cho mọi người biết, đang có ông già đi. Hãy tránh đường cho họ.

Lò phầy là vật bất ly thân, nhất là trong những ngày tháng giêng, đêm tháng hai. Quãng thời gian rét đài rét dai rét lộc rét mốc rét khốc rét liệt. Rét như thể không còn khi nào và ở đâu rét hơn được nữa. Kể cả khi lên giường đi ngủ, người ta cũng cho lò phầy vào nằm cùng. Đắp chung chăn và mơ chung một giấc. Người thì mơ cơm ngon áo đẹp. Còn lo phầy thì mơ củ khoai lang nướng. Đặc biệt là giống cà chua nhót. Quả tuy nhỏ bằng đầu ngón tay cái, nhưng rất ngọt. Xâu chúng vào thành giây, rồi vùi trong tro nóng. Cà chua chín dầm với muối, ăn cùng cơm vừa chín tới. Bữa ăn ngon đến mức quên luôn người mình đang yêu. Hai giấc mơ giản dị cộng lại, kể từ đây, loài người chỉ biết sống và đắm đuối yêu nhau thôi. Khi con người đầy ắp tình nhân ái thì không còn thù oán, không còn nóng giận, không còn ngu xuẩn và không còn dại dột nữa.

Nói cho có vẻ văn chương, lò phầy dùng để đựng tình thương của con người. Nên nó sống càng lâu càng toát ra cái đẹp. Áo lò phầy lên màu nâu bóng như quét sơn vec ni. Nhưng cốt nhất phải giữ gìn sao cho cẩn thận. Nếu không, than đỏ nhảy tót ra khỏi lồng. Ra khỏi lồng là than ấy sẵn sàng bắt vào quần áo chăn chiếu, làm bỏng da thịt, bốc lên mùi khen khét. Nhiều người do sơ ý mà để lại những vết sẹo. Vết bỏng túng tíu to bằng bàn tay mèo. Trong thực tế, có lắm cái do sơ ý, từ việc rất nhỏ bé mà ân hận cả một đời người.

Xin mọi người hãy nhớ một điều rằng, không thể lơ là khinh xuất với lửa than được. Lửa than biểu thị sự sống cho con người kể từ khi còn là các bộ lạc. Theo kinh dịch, lửa ứng với phương Nam. Ứng với mùa hè và màu đỏ. Lửa ấy vừa dùng để nuôi sự sống, vừa thiêu đốt cái xấu xa tội lỗi. Lửa xoa dịu nỗi đau ở tận đáy lòng. Lửa giận dữ trừng phạt đến tột cùng cái ác. Lửa ấy vừa tấy uế cái bẩn thỉu, vừa tái sinh cái đẹp đẽ lương thiện. Lửa ấy để nung chảy gang thép và đúc khuôn vàng bạc. Lửa trong tiếng Phạn là sự trong sạch. Lửa còn biểu hiện cho ý chí cao cường như ngọn núi. Mà núi là quê hương yêu dấu của chúng tôi.

Có lẽ vì những ý nghĩa sâu xa đó, mà bạn tôi- họa sỹ Vũ Bình tặng một cái lò phầy. Nhân ngày tôi xuống núi về công tác dưới xuôi để làm kỷ niệm. Lò phầy của tôi được nghỉ ngơi cả chục mùa đông rồi. Dưới này không rét cóng như trên quê đến mức cần dùng đến lò phầy. Nó ngồi ngay ngắn trên bàn viết. Hàng ngày, tôi thường tâm sự với lò phầy. Biết bao vui buồn lắng lại trong sự nhìn nhau im lặng. Im lặng không có nghĩa chẳng nói năng gì. Nói trong sự im lặng là vô cùng sâu sắc.Gan ruột cứ thấm sang nhau như nhân bánh nếp. Nhưng đã có lúc tôi định bụng đem cho Bảo tàng Văn học trưng bày. Bởi vì lò phầy của tôi là hàng độc. Tôi sẽ không ngần ngại khai lý lịch cho nó. Rằng chính cái lò phầy này giúp tôi đuổi rét mướt ra ngoài cửa, khi tôi ngồi sáng tác Tiêng hát tháng giêng. Đây là đứa con tinh thần đầu tiên của tôi. Tập thơ đầu lòng mỏng mảnh của tôi. Tập thơ xấu xí nhất trong các tập thơ của tôi đã in. Nhưng lại là tập thơ mà tôi tâm đắc nhất, yêu quý nhất. Năm sau, nó mọi người đem ra bình xét và được giải thưởng. Năm sau nữa, tôi được kết nạp vào Hội Nhà văn. Oách đến thế cơ mà. Công của lò phầy đâu có nhỏ

Advertisements