* Giảng viên và sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, thập niên 30, thế kỷ XX. Sv Nguyễn Văn Ninh hàng thứ 3, thứ 2, bên trái (áo đen) Ảnh tư liệu của gia đình KTS Nguyễn Văn Ninh. Đoàn Đức Thành sưu tầm.
SINH VIÊN KIẾN TRÚC TRƯỜNG MỸ THUẬT ĐÔNG DƯƠNG

ĐOÀN ĐỨC THÀNH

doanducthanh-KIẾN TRÚC VIỆT: NHÂN KỶ NIỆM 85 NĂM TRƯỜNG MỸ THUẬT ĐÔNG DƯƠNG (TIỀN THÂN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM), TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU MỸ THUẬT CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT VIỆT NAM & VIỆN MỸ THUẬT RA SỐ ĐẶC BIỆT KỶ NIỆM SỰ KIỆN NÀY (SỐ 3(35).9.2010). NGOÀI NHỮNG BÀI VIẾT VỀ ĐÀO TẠO HỌA SĨ CÒN CÓ BÀI VỀ SINH VIÊN KIẾN TRÚC THẾ HỆ ĐẦU TIÊN. DƯỚI ĐÂY LÀ BÀI CỦA ĐOÀN ĐỨC THÀNH.

Nền kiến trúc truyền thống Việt Nam đã để lại một kho di sản phong phú với những đền đài, cung điện, thành quách, nhà ở, đình chùa… nhờ bàn tay khéo léo của những nghệ nhân tài hoa. Các tác phẩm kiến trúc được hình thành từ những suy tư nghệ thuật, những kinh nghiệm tích lũy đời này qua đời khác. Đặc điểm bao quát của sáng tạo kiến trúc thời kỳ này là các công trình xây dựng trên cơ sở những ký hiệu trong cây thước tầm của bác thợ cả.
Kiến trúc mới Việt Nam tiếp thu phương pháp sáng tạo của nền kiến trúc hiện đại phương Tây, tức là kiến trúc có bản vẽ đã mở ra giai đoạn mới của kiến trúc Việt Nam với tư duy sáng tạo mới, phương pháp thiết kế mới và đã làm nên những tác phẩm kiến trúc mới. Gắn với sự hình thành nền kiến trúc mới Việt Nam là những kiến trúc sư được đào tạo theo phương pháp của phương Tây tại Trường Mỹ thuật Đông Dương.
* Cổng Trường Mỹ thuật Đông Dương trước năm 1945 (nhìn ra đường Lê Duẩn, Hà Nội ngày nay)
Tham vọng khai thác thuộc địa của thực dân Pháp không chỉ dừng ở việc bóc lột tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ mạt mà còn cả ở việc huy động nhân lực có học vấn, được đào tạo nghề nghiệp để phục vụ cho các bộ máy của chính quyền thực dân. Từ đó nền giáo dục phổ thông, dạy nghề, cao đẳng kỹ thuật… đã dần được triển khai. Nha học chính Đông Dương lập vào năm 1906 đã định ra ba bậc học cơ sở là ấu học (ở thôn xã), tiểu học (ở phủ huyện) và trung học (ở các tỉnh). Một số trường cao đẳng được thành lập và đến năm 1906 thì mở ra Trường Đại học Đông Dương. Nền văn hóa Pháp qua đó được chuyển hóa vào Việt Nam đã tạo nên sự tiếp xúc giữa văn hóa truyền thống nước ta với văn hóa hiện đại phương Tây. * Họa sĩ Victor Tardieu (1876-1937) Hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Đông Dương từ năm 1925 đến năm 1937* KTS Ernest Hébrard và sinh viên kiến trúc Việt Nam. Ảnh: Đoàn Đức Thành sưu tầm.* Giảng viên và sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, thập niên 30, thế kỷ XX. Ảnh tư liệu gia đình KTS Nguyễn Ngọc Ngoạn. Ngô Huy Giao sưu tầm.* Giảng viên và sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, thập niên 30, thế kỷ XX. Sv Nguyễn Văn Ninh hàng đầu bên trái.Ảnh tư liệu gia đình KTS Nguyễn Văn Ninh. Đoàn Đức Thành sưu tầm.
Ảnh hưởng của văn hóa phương Tây ở Việt Nam được thể hiện rõ nhất tại các đô thị, trước tiên là các đô thị lớn như Hà Nội và Sài Gòn. Tại đây, bên cạnh những cấu trúc đô thị truyền thống, những “khu phố Ta” đã thấy có những “khu phố Tây” với những cách thức về xây dựng đô thị của châu Âu đã được đưa vào Việt Nam. Tại những không gian đô thị mới này đã mọc lên những tòa nhà uy nghi của chính quyền thực dân như để chứng tỏ sự hiện diện của một thế lực đang áp đặt lên xã hội thuộc địa. Chính quyền thực dân đã cử những kiến trúc sư người Pháp có năng lực để thực hiện những công trình này, họ đã mang được nhiều nét tinh hoa văn hóa và kiến trúc Pháp đã rất phát triển tới những đô thị này. Vượt lên trên những mưu đồ bóc lột và nô dịch của Chủ nghĩa thực dân, nhiều kiến trúc sư người Pháp đã có những đóng góp đáng kể cho sư tiếp xúc và hòa hợp của hai nền văn hóa Đông – Tây với những kiến trúc có sự kết hợp những yếu tố của hai nền văn hóa.

Khoa Kiến trúc trong Trường Mỹ thuật Đông Dương
* Sinh viên Trường Mỹ thuật Đông Dương, thập niên 30, thế kỷ XX. Từ phải sang trái: Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cao Luyện, Đoàn Ngọ,… Ảnh gia đình KTS Nguyễn Cao Luyện. Đoàn Đức Thành sưu tầm.
Tháng 11-1925 trường khai giảng khóa đầu (1925-1930) với 12 sinh viên (tuyển từ 270 thí sinh toàn Đông Dương), trong đó 10 sinh viên học hội họa: Lê Văn Đệ, Nguyễn Tường Tam, Mai Trung Thứ, Nguyễn Phan Chánh, Lê Phổ, Công Văn Chung, Lê Ăng Phan, Georgeo Khánh, Nguyễn Xuân Phương, Lê Quang Tỉnh… Khoa Kiến trúc được thành lập (Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 1-10-1926), là một khoa của Trường Mỹ thuật Đông Dương, cơ sở đào tạo kiến trúc sư của Pháp duy nhất ở nước ngoài.
Ngay khi thành lập Khoa Kiến trúc thì Nguyễn Xuân Phương và Lê Quang Tỉnh được chuyển chuyển sang học kiến trúc. Nguyễn Tường Tam và Lê Ăng phan đang học dở dang thì bỏ, chuyển sang làm nghề khác.
V. Tardieu là một nghệ sĩ có tư tưởng tiến bộ, vượt ra khỏi quan điểm hẹp hòi của Chủ nghĩa thực dân. Trong suốt 12 năm làm Hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Đông Dương (1925-1937) ông đã xây dựng nhà trường thành một trung tâm đào tạo các họa sĩ, nhà điêu khắc và kiến trúc sư Việt Nam, được học theo chương trình của Trường Mỹ thuật Quốc gia Paris. Trong thời gian này, nhà trường đã mời các thầy dạy là kiến trúc sư người Pháp có tài năng đã từng sáng tác nhiều công trình ở Pháp và Đông Dương như: KTS Ernest Hébrad (là một trong hai kiến trúc sư đoạt Giải Prix de Rome được giao nhiệm vụ phụ trách quy hoạch – kiến trúc Đông Dương từ năm 1921, người khởi xướng Phong cách Kiến trúc Đông Dương) kiêm Chủ nhiệm Khoa Kiến trúc của Trường. GS Athur Kruze – một người thầy dạy nhiệt tình, có phương pháp sư phạm về chuyên môn kiến trúc độc đáo: Phương án của sinh viên được treo lên, thầy trò cùng bình luận ưu khuyết điểm, sau đó sinh viên sửa chữa bổ sung, nên kết quả học tập tiến bộ nhanh. Các kiến trúc sư vừa giảng dạy vừa sáng tác đã mở mang kiến thức cho sinh viên kiến trúc nhiều mặt như: Gaston Roger; Louis Gaerges Pineau; Jacques Lagisquet,… các kiến trúc sư có xu hướng tiến bộ này đã đào tạo kiến trúc sư thiên về nghệ thuật sáng tạo. * Bằng kiến trúc sư Trường Mỹ thuật Đông Dương, năm 1939 cấp cho sinh viên Nguyễn Văn Nghi. Chụp lại từ bằng gốc do gia đình KTS Nguyễn Văn Nghi cung cấp. Ngô Huy Giao sưu tầm.
Ngoài môn mỹ thuật học chung còn có các môn khác cho sinh viên kiến trúc: GS Batteur, là Ủy viên Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp, hướng dẫn sinh viên kiến trúc đi vẽ ghi các công trình kiến trúc đình chùa ở Hà Nội và các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình,…những tài liệu được hoàn chỉnh và lưu giữ làm tài sản quốc gia. Các giáo trình giảng dạy kiến trúc do Violet le Duc soạn thảo. Sách nghiên cứu chủ yếu của Pháp, có khai thác thêm sách kiến trúc của Trung Quốc và Nhật Bản.
Trong quá trình học tập, một số sinh viên kiến trúc đã bắt đầu sáng tác những công trình biệt thự, nhà ở hàng phố đạt yêu cầu thẩm mỹ cao.
Nằm trong khuôn khổ của những ý đồ “Khai hóa thuộc địa” của Chủ nghĩa thực dân thì không tránh khỏi quan điểm đào tạo có những ý tưởng thiên về thực dụng, chỉ đào tạo những nghệ nhân làm hàng mỹ nghệ chứ không phải những nghệ sĩ có năng lực sáng tạo. Điều này gây phản ứng ở nhiều người và đôi lúc nhà trường có nguy cơ bị đóng cửa. Vì thế rất cần ghi nhận người có công dẫn dắt nhà trường hướng tới việc đào tạo các nghệ sĩ sáng tạo chính là ông Hiệu trưởng V. Tardieu, với sự cộng tác của họa sĩ Nam Sơn đã kiên định quan điểm cho rằng người bản xứ hoàn toàn có khả năng được đào tạo để trở thành những nghệ sĩ tạo hình chân chính.
Nhà điêu khắc Evariste Ronchere – người kế tục hoạ sĩ V. Tardieu làm Hiệu trưởng từ năm 1937 – năm 1942 chủ trương đào tạo kiến trúc sư thực hành, với mục đích để kiến trúc sư người Pháp tìm ý tưởng, còn kiến truc sư Việt Nam vẽ kỹ thuật. Còn hoạ sĩ người Việt thì chuyên sản xuất mỹ nghệ, nên đã chia Trường Mỹ thuật Đông Dương làm hai trường riêng biệt: Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, trong đó có Khoa Kiến trúc và Trường Mỹ nghệ thực hành Hà Nội (Nghị định ngày 22-10-1942 của Toàn quyền Đông Dương). Từ đây, nội dung đào tạo được chuyển đổi và thấp hơn so với chương trình đào tạo kiến trúc sư tại Trường Mỹ thuật Quốc gia Paris.
Tháng 12 năm 1943, lực lượng đồng minh thuộc quân đội Mỹ trong Chiến tranh Thế giới lần thứ II ném bom xuống Hà Nội. Theo chủ trương của Nha Học chính Đông Dương, các trường học phải sơ tán khỏi Hà Nội. Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã chia thành ba bộ phận, sơ tán ở ba nơi:
– Các lớp Mỹ nghệ sơ tán về Phủ Lý, do Georges Khánh và Bùi Tường Viên phụ trách.
– Khoa Kiến trúc và một phần lớn Lớp Điêu khắc vào Đà Lạt, do E.Jonchere phụ trách.
– Khoa Hội họa và một phần nhỏ Lớp Điêu khắc lên Sơn Tây, do giáo sư Inguimberty cùng các họa sĩ Nam Sơn và Tô Ngọc Vân phụ trách.
Năm 1944, Khoa Kiến trúc ở Đà Lạt được nâng thành Trường Kiến trúc, nhưng vẫn trực thuộc Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Nghị định ngày 22-2-1944).
Sau cuộc đảo chính của Nhật hất cẳng Pháp khỏi xứ Đông Dương ngày 9-3-1945, Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương giải thể vào cuối năm 1945.
Từ năm 1942 đến 1945, Trường cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đào tạo 3 khoá học dở dang, có trên 20 sinh viên kiến trúc không có điều kiện tiếp tục học tập ở trường này.
Trong 20 năm (1925-1945), Trường Mỹ thuật Đông Dương sau này là Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã tổ chức đào tạo được 18 khoá học (trong đó 11 khóa có sinh viên kiến trúc), đã đào tạo tốt nghiệp tạo trên 150 sinh viên ngành Mỹ thuật và trên 77 sinh viên ngành Kiến trúc, có trình độ vững vàng, được học tập theo chương trình giảng dạy và phương pháp đào tạo khoa học của Trường Mỹ thuật Quốc gia Paris ở Pháp.
Kiến trúc sư đào tạo từ Trường Mỹ thuật Đông Dương vẫn hành nghề bó hẹp trong phạm vi các nước Đông Dương, mãi đến đầu năm 1945, Chính phủ Pháp mới công nhận văn bằng kiến trúc sư của Trường Mỹ thuật Đông Dương có giá trị hành nghề ở Pháp và Đông Dương (Nghị định 6-2-1945).
Những sinh viên học dở dang vì đất nước có chiến tranh, việc học bị ngưng trệ, sau đó đã được làm đồ án tốt nghiệp hoặc học tiếp (ở vùng kháng chiến Việt Bắc, ở thủ đô Paris của nước Pháp hoặc ở Sài Gòn). Phần lớn họ đã trở thành người làm nghề và có nhiều đóng góp cho nền kiến trúc mới Việt Nam.

Sáng tác kiến trúc phục vụ dân sinh của thế hệ kiến trúc sư đầu tiên
Những kiến thức nghề nghiệp được nhà trường trang bị đã mở ra chân trời mới cho hoạt động sáng tạo của kiến trúc sư Việt Nam vốn có mong muốn đem sức mình tạo dựng những công trình kiến trúc trên đất nước mình. Không chỉ là học nghề để kiếm sống, các kiến trúc sư hiểu rõ đất nước còn trong vòng nô lệ, cuộc sống người dân còn chịu bao thiếu thốn và đang đòi hỏi những bàn tay tài năng chăm lo việc xây cất nhà cửa cho họ. Học nghề và làm nghề lúc đó không thể tính đến việc cạnh tranh làm các công trình lớn, đặc biệt là các công trình của nhà nước thực dân vốn chỉ dành riêng cho những kiến trúc sư người Pháp từ “chính quốc” sang. Nhiệt huyết làm nghề thôi thúc nên ngay từ khi còn trên ghế nhà trường, nhiều sinh viên đã bằng cách này hay cách khác có được những tác phẩm qua những cuộc thi sáng tác kiến trúc, thiết kế phục vụ dân sinh, dịp để thể hiện tinh thần tìm về nền kiến trúc dân tộc. Nhiều kiến trúc sư đi vào nghề đã chứng tỏ bản lĩnh nghề nghiệp của mình. Giai đoạn đầu (trước những năm 1940) sáng tác của các kiến trúc sư còn chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp, lệ thuộc vào kiến thức của các thầy. Giai đoạn sau, tư tưởng sáng tác đã định hình, các kiến trúc sư đã tìm về cuội nguồn dân tộc, do vậy mà tạo nên những công trình kiến trúc gần gũi với tình cảm người dân hơn.* Nhà Thủy Tạ bên hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, xây dựng năm 1937 do KTS Võ Đức Diên và KTS Nguyễn Xuân Tùng thiết kế. Ảnh: Đoàn Đức Thành sưu tầm.
Rất nổi trội vào thời kỳ này phải kể đến bộ ba kiến trúc sư đã mở văn phòng kiến trúc đầu tiên ở Hà Nội. Các ông đã đóng góp cho xã hội nhiều công trình đáng ghi nhận. Kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện học rất giỏi, được học bổng đi tu nghiệp tại Pháp, ra nghề không làm việc cho chính quyền thực dân mà mở phòng kiến trúc tư với các bạn học gồm kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp cùng khóa và kiến trúc sư Nguyễn Gia Đức học khóa sau. Mỗi người đều đã có sáng tác để lại nhiều ấn tượng tốt ở Hà Nội (Nguyễn Cao Luyện có các biệt thự 65 Lý Thường Kiệt, 77 Nguyễn Thái Học, 215 Đội Cấn, 7 Thuyền Quang… Hoàng Như Tiếp có biệt thự 14 Phạm Đình Hồ… Nguyễn Gia Đức có biệt thự Lê Đình H ở phố Hàng Đẫy, Bình Minh trang ở khu Quần Ngựa…). Công trình mang tính khoa học mang tên Nhà ánh sáng (kiểu nhà ở bình dân không đắt tiền nhưng có môi trường ở tiện nghi, nhiều ánh sáng…) đã làm cho các ông được cảm phục nhờ tính nhân văn, hướng nghề nghiệp vào việc phục vụ đời sống dân nghèo thành thị.
Ở Sài Gòn cũng nổi bật nhiều tác phẩm: Biệt thự của bác sĩ Trần Văn Chương của kiến trúc sư Hoàng Hùng; Câu lạc bộ Thuỷ quân, các biệt thự 40/40 Lò Heo, 150 đường Nguyễn Đình Chiểu, số 6 Nguyễn Huy Lượng, nhà bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (góc đường Bà Huyện Thanh Quan – Nguyễn Thị Minh Khai)…của kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát. Một số biệt thự ở Đà Lạt của các kiến trúc sư Phan Nguyên Mậu, Trần Hữu Tiềm, Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Ngọc Chân, Huỳnh Tấn Phát…được dư luận thời bấy giờ đánh giá cao.

Sáng tác kiến trúc phục vụ Cách mạng
Vốn là những kiến trúc sư giàu lòng yêu nước, ngay từ trước Cách mạng Tháng Tám, các kiến trúc sư đầy sức trẻ và tài năng cũng đã đóng góp những công trình thật sự có ý nghĩa lớn cho Cách mạng. Đó là Kỳ đài cao 15 mét được xây dựng giữa đô thành Sài Gòn vào ngày 25-8-1945 phục vụ cuộc mít tinh khổng lồ chào mừng Cách mạng Tháng Tám do kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát (lúc đó 32 tuổi) thiết kế và tạo dựng. Còn ở thủ đô Hà Nội người dân được chứng kiến Lễ đài Độc Lập ở Quảng trường Ba Đình, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc Lập vào ngày 2-9-1945, khai sinh Nhà nước Dân chủ Cộng hòa đầu tiên ở Đông- Nam Á. Công trình do kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh thiết kế và chỉ huy việc xây dựng.
* Hồ Chủ tịch xét duyệt quy hoạch thủ đô Hà Nội, 1959, do thế hệ kiến trúc sư đầu tiên thiết kế.

Toàn quốc kháng chiến ngày 19-12-1946, tin tưởng vững chắc vào tiền đồ dân tộc, theo tiếng gọi của Hồ Chủ tịch, nhiều kiến trúc sư đã từ bỏ cuộc sống giàu sang ở đô thị đưa gia đình ra vùng tự do, lên chiến khu Việt Bắc, vượt qua khó khăn gian khổ để hoà vào công cuộc kháng chiến kiến quốc của toàn dân. Các kiến trúc sư đã tự nguyện làm bất kỳ công tác gì có lợi cho cách mạng.
Cuộc sống mới yêu cầu những loại hình kiến trúc mới như hội trường, trụ sở ủy ban, lớp bình dân học vụ, nhà triển lãm, khu giao tế, nhà thông tin…vật liệu chủ yếu bằng tre, gỗ, nứa, lá, khai thác tại chỗ. Các kiến trúc sư đã sáng tác đáp ứng với nội dung sử dụng, tạo nên những hình thức mới, đường nét kiến trúc giản dị, ẩn mình trong rừng cây Việt Bắc, cấu tạo theo kỹ thuật truyền thống được gia công kỹ lưỡng, với vẻ đẹp nao lòng, đã phục vụ đắc lực cho nhiều yêu cầu hoạt động của chính quyền non trẻ, củng cố thêm niềm tin đối với quần chúng nhân dân. Đặc biệt quần thể công trình kiến trúc khu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đã gây tiếng vang lớn.
Hiệp định Geneve 1954 lập lại hòa bình ở Việt Nam, đất nước bị chia cắt thành hai miền tạo những bối cảnh kinh tế xã hội khác nhau đối với hoạt động kiến trúc. Khung cảnh hòa bình xây dựng đất nước ở miền Bắc, xóa dần vết thương chiến tranh và phát triển kinh tế để tiến tới một xã hội phồn vinh trong sự giúp đỡ chí tình của các nước XHCN khi đó là mảnh đất thuận lợi cho những sáng tạo kiến trúc.
Thủ đô Hà Nội được giải phóng đã tưng bừng đón đoàn quân chiến thắng trở về, gấp rút chuẩn bị cho cuộc đại lễ đón chào Bác Hồ, Đảng và Chính phủ. Địa điểm tiến hành lễ nghi này cũng chính là Quảng trường Ba Đình, nơi 9 năm trước từng có Lễ đài Độc Lập. Việc xây dựng công trình phục vụ đại lễ được giao cho kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh gồm hai công trình là Lễ đài và Đài Liệt sĩ. Trong thời gian rất ngắn, với vật liệu chủ yếu bằng gỗ, hai công trình đã được tạo dựng theo đường nét kiến trúc dân tộc rất bề thế và hoành tráng. Cũng với tinh thần phải làm gấp rút cho những hoạt động của Thủ đô mới giải phóng, một nhà hát và sân khấu ngoài trời cũng bằng gỗ đã nhanh chóng được xây dựng đủ chỗ cho 3000 người, đó là Nhà hát Nhân dân theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện.
Hội nghị Kiến trúc sư toàn quốc lần thứ II vào ngày 26,27-4-1957 là dịp để tập hợp lực lượng sau 9 năm kháng chiến giữa các kiến trúc sư từ chiến khu về và các kiến trúc sư trong Hà Nội bị tạm chiếm. Nhiệm vụ to lớn nhưng lực lượng tập hợp lại cũng chẳng lớn lao gì, tất cả chỉ có 20 người. Họ làm việc trong các cơ quan Nhà nước ở Trung ương (Bộ Thủy lợi- Kiến trúc, về sau là Bộ Kiến trúc) và ở Hà Nội (Sở Kiến trúc). Về chuyên môn ở Bộ có 2 cơ quan là Cục thiết kế Dân dụng (sau là Viện thiết kế Kiến trúc) và Cục Đô thị – Nông thôn (sau là Viện quy hoạch Đô thị và Nông thôn). Những kiến trúc sư có năng lực nhất làm việc ở đây đã là trụ cột của hoạt động kiến trúc thời kỳ này.
Nằm ở vị trí đối diện với Hội trường Ba Đình, quần thể kiến trúc gắn với vị Chủ tịch nước, Bác Hồ kính yêu không chỉ thể hiện lòng tôn kính vô hạn của toàn Đảng toàn dân đối với Người mà còn là tâm huyết cháy bỏng của các kiến trúc sư mong được đóng góp sức mình vào công việc cao cả này. Có vinh dự hàng đầu phải kể đến kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đã được giao nhiệm vụ sáng tác ngôi nhà bằng gỗ dạng nhà sàn làm nơi ở và làm việc của Bác. Công trình giản dị như chính cuộc đời của Bác nay đã trở thành vật lưu niệm linh thiêng về vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.
Năm 1960, Nhà nước chủ trương xây Lễ đài Ba Đình bằng gạch kiên cố hơn, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh vẫn thiết kế theo tinh thần lễ đài gỗ trước đây, nhưng thể hiện đúng bản chất của vật liệu gạch và bê tông, hiện đại hơn nhưng vẫn mang phong cách kiến trúc truyền thống.
Bước vào cuối những năm 1950 đầu những năm 1960 cho tới ngày đất nước thống nhất, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến hành ở miền Bắc đòi hỏi những cố gắng lớn lao để xây dựng một hệ thống hạ tầng cho xã hội mới, các kiến trúc sư lúc này đứng trước những nhiệm vụ cực kỳ to lớn và họ đã hết sức nỗ lực cho sự nghiệp đó.
Cơ quan Chính phủ từ vùng kháng chiến về Thủ đô tất yếu phải có chỗ làm việc, các kiến trúc sư đã thiết kế nhiều trụ sở cơ quan làm việc. Khởi đầu là Trụ sở Bộ Kiến trúc ở Vân Hồ do kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân thực hiện. Công trình có hình khối chắc, khỏe nhìn về phía công viên Thống Nhất đánh dấu bước phát triển mới khu vực phía Nam của Hà Nội. Cùng với nhiều trụ sở cơ quan khác, công trình có kiến trúc gây ấn tượng vào lúc này là Trụ sở Tổng cục Thống kê do kiến trúc sư Đoàn Văn Minh thiết kế. Công trình có vị trí đẹp góc phố Hoàng Diệu và Hoàng Văn Thụ đã được tác giả khai thác khéo léo với mặt nhà cong như để ôm lấy một quảng trường trong tương lai. Tầng một là tầng đế vững chắc cho các tầng trên với các trụ giả suốt ba tầng tạo vẻ hoành tráng theo phong cách Kiến trúc Cổ điển (phương Tây). Cũng ở khu Vân Hồ và nằm không xa trụ sở Bộ Kiến trúc còn có tòa nhà dùng làm Trụ sở Liên cơ quan của Hà Nội do kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn thiết kế cũng tạo được một hình ảnh kiến trúc bề thế và nhẹ nhõm.
Kiến trúc trường học cũng là đòi hỏi lớn vào thời gian này. Ngoài một số trường đã có cơ sở cũ thì nhiều trường mới thành lập phải xây dựng cơ sở mới. Gây ấn tượng mạnh về kiến trúc trường học thời kỳ này phải kể đến công trình Trường đại học Thủy lợi, một quần thể kiến trúc lớn trên một khu đất rộng mà tác giả thiết kế là kiến trúc sư Đoàn Văn Minh, thêm một lần nữa chứng tỏ tài năng kiến trúc của mình. Mặt chính tổng thể kiến trúc dàn ra cả một đoạn phố, chính giữa được nhấn mạnh bằng khối cao gắn bó chặt chẽ với các khối bên theo một tỷ lệ và nhịp điệu hài hòa. Cũng nằm trên một không gian bề thế về phía Tây của Thủ đô, kiến trúc Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc do kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân thiết kế cũng gây được ấn tượng tốt bởi tính trang nghiêm và không kém phần trong sáng của tổng thể kiến trúc mà trung tâm là khối nhà Hội trường đặt trước một không gian quảng trường ấm cúng. Đóng góp cho thể loại kiến trúc trường học còn phải kể đến công trình của Trường trung cấp Thương nghiệp là sáng tác của kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật với nhiều nét nhẹ nhàng, thanh thoát có phong cách mới mẻ.
Kiến trúc các công trình công cộng xây dựng vào thời kỳ này được xem là đóng góp vô cùng quan trọng của bàn tay các kiến trúc sư lớp đầu của nền kiến trúc mới Việt Nam. Có ý nghĩa lớn về chính trị và xã hội phải kể đến công trình Hội trường Ba Đình được sử dụng làm nơi họp Quốc hội và các đại hội lớn của Đảng và Nhà nước, trong lúc chưa xây dựng được trụ sở chính thức của Quốc hội. Các tác giả thiết kế là kiến trúc sư Trần Hữu Tiềm và kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện (khi đó là Thứ trưởng Bộ Kiến trúc có vai trò chỉ đạo). Việc xác định địa điểm xây dựng dựa theo phác thảo nhanh về Quy hoạch khu Ba Đình của kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh (với ý tưởng gắn kết hội trường với trụ sở của các bộ kề bên). Vào lúc mà điều kiện đầu tư xây dựng rất hạn hẹp và phải làm nhanh để sớm phục vụ, các tác giả đã phải vượt qua nhiều khó khăn để làm nên một kiến trúc có quy mô khá lớn vào lúc đó…Một tác phẩm kiến trúc công cộng khác được đánh giá cao vào thời kỳ này là nhà Bảo tàng Việt Bắc ở Thái Nguyên do kiến trúc sư tài hoa Hoàng Như Tiếp thiết kế. Công trình có diện tích tới 2000m2, trên một đỉnh đồi, với 5 khối trưng bày được liên kết khéo léo bằng hành lang và tiền sảnh, có những sân trong làm vườn cảnh rất sinh động. Tác phẩm được đánh giá là thành công trong sự hài hòa giữa tính hiện đại và tính dân tộc.
Cùng với những đóng góp về kiến trúc công trình như nêu trên thì về mặt quy hoạch đô thị các kiến trúc sư lớp đầu tiên cũng có những đóng góp không nhỏ. Được chuyên gia các nước bạn XHCN khi đó giúp đỡ, việc lập quy hoạch các đô thị được triển khai mạnh, trước tiên là thủ đô Hà Nội. Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh đã có nhiều năm học tập ở Liên Xô (cũ), nay cùng với các chuyên gia Liên Xô tạo bước khởi đầu về nghiên cứu quy hoạch của đô thị quan trọng nhất của cả nước này. Sau Thủ đô, nhiều thành phố công nghiệp mới cũng đã được làm quy hoạch như các thành phố Thái Nguyên, Việt Trì, Vinh… với công sức đóng góp của các kiến trúc sư Đàm Trung Phường, Khổng Toán.
Ở cương vị lãnh đạo cơ quan chuyên môn quy hoạch đô thị, kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp dành tâm huyết cho công việc này không chỉ ở việc chuyên môn cụ thể mà ở cả tầm nhìn chiến lược đối với ngành khoa học mới mẻ này. Cũng như vậy, kiến trúc sư Tạ Mỹ Duật khi nhận nhiệm vụ lãnh đạo cơ quan quy hoạch của Hà Nội cũng đã có nhiều đóng góp lớn lao trong việc triển khai công việc này trên địa bàn Thủ đô.
Những bản phác thảo quy hoạch cho các đô thị nêu trên đã có vai trò quan trọng trong việc chỉ đạo và quản lý các hoạt động xây dựng tại các đô thị trong giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta. Rất nhiều khu công nghiệp đã hình thành theo quy hoạch, kèm theo đó là hệ thống giao thông, cầu cống, các hệ thống kỹ thuật cung cấp điện, cấp nước và thoát nước cho các khu đô thị mới phát triển. Nhiều khu dân cư được chỉnh trang có môi trường sống tốt hơn cùng với việc phát triển hệ thống hạ tầng xã hội về văn hóa, giáo dục, thương nghiệp, y tế…
Nhu cầu phát triển nhanh nhà ở cho cán bộ và nhân dân đòi hỏi việc xây dựng những khu ở tập trung tại các đô thị lớn Hà Nội, Hải Phòng, Vinh… Các kiến trúc sư ở Cục Đô thị – Nông thôn với sự giúp đỡ của nước bạn đã lập quy hoạch các khu ở theo cấu trúc quy hoạch tiểu khu, tạo cơ sở cho việc hình thành các khu ở mới như Kim Liên, Trung Tự, Giảng Võ ở Hà Nội, An Dương ở Hải Phòng, Quang Trung ở Vinh.
Quy hoạch và kiến trúc các khu ở mới đã thể hiện mối quan tâm của xã hội tạo chỗ ở cho đông đảo người dân lao động. Trong điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn, việc xây dựng phải hết sức tiết kiệm nhưng các kiến trúc sư đã hết sức cố gắng để kiến trúc có thể “đẹp trong điều kiện có thể” như phương châm cho việc thiết kế vào lúc đó. Hướng vào việc xây dựng kiểu công nghiệp hóa, nhà ở được thiết kế cho kỹ thuật nhà lắp ghép là loại kỹ thuật trước đây chưa từng làm, nhưng việc thiết kế đã vượt qua nhiều khó khăn, đã tạo dựng nhiều khu nhà ở tập thể đủ khang trang cho đông đảo người dân lao động ở các đô thị.
Kiến trúc xây dựng ở miền Bắc vừa qua giai đoạn khôi phục kinh tế sau chiến tranh, bước sang kế hoạch xây dựng 5 năm là thứ nhất thì cũng là lúc đế quốc Mỹ gây ra sự kiện Vịnh Bắc Bộ ngày 5-8-1964 và leo thang gây chiến tranh phá hoại miền Bắc. Phần lớn thành quả của giới kiến trúc sư thực hiện trong 10 năm hoà bình và trước đó đã bom đạn phá huỷ. Để đời sống đáp ứng với cuộc chiến tranh huỷ diệt, giới kiến trúc sư miền Bắc một lần nữa đi tìm loại hình kiến trúc mới để bảo vệ thành quả cách mạng, chống lại các loại bom đạn phá huỷ. Đó là loại “nhà hầm” để Bác Hồ, Bộ Chính trị ở và làm việc trong lúc máy bay bắn phá. Đó là các cơ sở làm việc của Đảng và Nhà nước sơ tán ở trong các rừng sâu thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc. Đó là hàng chục đài phát thanh, cơ quan thông tấn, các kho tàng xây dựng trong các hang động cao đến 5-7 tầng… kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân tuổi ngót 60 vẫn chủ trì thiết kế vượt qua những làn bom đạn đến những công trường theo dõi thi công những công trình tuyệt mật ấy trong nhiều năm.
Để đánh dấu chiến công của quân và dân Nam Định bắn rơi nhiều thần sấm, con ma- những không lực Hoa Kỳ- kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện có một tác phẩm kiến trúc rất độc đáo. Đó là công trình Bảo tàng Cổ vật, mà tư duy sáng tạo dường như có phần “đi trước thời gian” nên đã không được chấp nhận ngay khi nó xuất hiện. Kiến trúc này được xem là thuộc “phong cách biểu hiện” mà thế giới đã làm nhiều nhưng ở nước ta mới có lần đầu. Tinh thần đổi mới phong cách kiến trúc của kiến trúc sư lão thành đã là tấm gương để nhiều kiến trúc sư trẻ học tập.
Sau khi Bác Hồ qua đời, Đảng và Chính phủ quyết định xây dựng Lăng để bảo quản thi hài cho con cháu muôn đời sau được chiêm ngưỡng Người. Việc thiết kế công trình Lăng Bác Hồ được các chuyên gia Liên Xô (cũ), nơi có nhiều kinh nghiệm giúp đỡ, có sự phối hợp của các kiến trúc sư thế hệ đầu tiên trong quá trình phác thảo tìm ý cũng như quá trình hoàn thiện, như các kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, Nguyễn Văn Ninh, Hoàng Như Tiếp, Vương Quốc Mỹ,…Đặc biệt là kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân là người chủ trì về phía Việt Nam thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông đã thiết kế phương án Lăng theo gợi ý của Bộ Chính trị Việt Nam, kiên trì thuyết phục các chuyên gia Liên Xô thiết kế kỹ thuật theo phương án Việt Nam như đã xây dựng.
Vào thời điểm miền Bắc khôi phục kinh tế, tiến lên XHCN và sau đó xảy ra chiến tranh phá hoại, thì ở miền Nam nước ta đang tiếp tục sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc tiến tới thống nhất Tổ quốc. Tại các thành thị, bộ máy chính quyền thực dân mong muốn duy trì vai trò thống trị dựa vào nguồn lực từ bên ngoài cũng tạo được khung cảnh yên ổn làm ăn cho người dân. Trên đất Sài Gòn mọc lên nhiều công trình mới và dần có bộ mặt kiến trúc mới, trong đó có sự đóng góp tài năng của nhiều kiến trúc sư thuộc thế hệ đầu tiên.

Đóng góp của kiến trúc sư miền Nam
Trong số các gương mặt kiến trúc sư có nhiều hoạt động nghề nghiệp đóng góp vào sự phát triển nền kiến trúc mới Việt Nam trên địa bàn phương Nam, chủ yếu là ở Sài Gòn, thì kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát là một trường hợp đặc biệt nổi trội.
Sau năm 1954, đất nước chia hai miền, kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được phân công hoạt động bí mật ở Sài Gòn. Để hoạt động hợp thức, ông hợp tác làm việc tại văn phòng của kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thiện, thiết kế nhiều công trình có giá trị. Trong cương vị Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, với bề bộn công việc lãnh đạo, ông vẫn dành nhiều thời gian cho kiến trúc, trực tiếp vẽ kiểu hoặc chỉ đạo xây dựng các công trình ở căn cứ cách mạng, trong đó có Hội trường để phục vụ đại hội Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam ở Lò Gò, phác thảo phương án quy hoạch thủ phủ tạm thời của Chính phủ Cách mạng ở Lộc Ninh.
Lực lượng sáng tác kiến trúc ở miền Nam lúc này được tập hợp từ nhiều nguồn: Kiến trúc sư quê miền Nam ra Hà Nội học ở Trường Mỹ thuật Đông Dương đã tốt nghiệp hoặc sinh viên kiến trúc đang học thì xảy ra chiến tranh, sau đó sang Pháp học tiếp tại Beaux – Arts de Paris (khi tốt nghiệp được nhận bằng của chính phủ Pháp: bằng DPLG, diplomé par le gouvernemet). Những sinh viên không có điều kiện du học thì sau này học tiếp và tốt nghiệp ở Trường đại học Kiến trúc Sài Gòn. Kiến trúc sư ngoài Bắc tốt nghiệp ở Trường Mỹ thuật Đông Dương đã di chuyển vào trong Nam khi đất nước bị chia cắt, năm 1954. Lực lượng kiến trúc sư ở Sài Gòn khá đông đảo, trên 50 người.
Nổi bật nhất giữa trung tâm đô thành Sài Gòn là công trình Dinh Độc Lập do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, được xây dựng trên nền móng của Dinh Norodom xưa (xây dựng vào năm 1868, sau này bị bom phá sập). Công trình có quy mô bề thế trên khuôn viên đất rộng 13 hecta, trên một trục không gian kéo dài qua đại lộ tới khu cây xanh lớn Thảo Cầm Viên. Ông cũng là tác giả của nhiều công trình kiến trúc được xã hội đánh giá cao như khu Đại học Thủ Đức, Đại học Nông – Lâm – Súc ở Thủ Đức, Trụ sở Hàng không Việt Nam ở Sài Gòn, Viện Hạt nhân ở Đà Lạt, Trường Sư phạm Huế, Khách sạn Hương Giang (I và II) ở Huế…
Kiến trúc trường học chiếm vị trí quan trọng trong hoạt động sáng tác của các kiến trúc sư ở phía Nam, tập trung chủ yếu ở Sài Gòn, Thủ Đức và một phần ở Huế, Cần Thơ như: Đại học Thủ Đức nằm cạnh xa lộ Sài Gòn – Biên Hòa. Công việc thiết kế được giao cho nhiều kiến trúc sư, ngoài Đại học Nông – Lâm – Súc còn có Trường Bách khoa, Trường Kinh tế, Vũ Tòng là người thiết kế. Kề bên khu giảng dạy còn có khu biệt thự (làng đại học) là nhà ở của các thầy giáo (khoảng 200 biệt thự). Kiến trúc các biệt thự rất đa dạng, phần lớn do các kiến trúc sư Huỳnh Kim Mãng, Nguyễn Duy Đức, Tô Công Văn, Lê Văn Lắm thiết kế.
Trong số các công trình kiến trúc phục vụ văn hóa, nổi bật nhất là nhà Thư viện Quốc gia (nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh) nằm ở một vị trí khá đẹp tại trung tâm thành phố (góc phố Lý Tự Trọng và Nguyễn Trung Trực). Các tác giả thiết kế (Nguyễn Hữu Thiện, Bùi Quang Hanh) đã tạo hình khéo léo kết hợp khối nhà nằm ngang của các phòng đọc với khối đứng là kho sách, đem lại những hình ảnh sinh động từ nhiều góc nhìn. Đặc biệt mặt nhà khối phòng đọc được trang trí bằng mạng lưới hoa văn bê tông kết hợp những panô vuông, đúc nổi hình rồng phượng đã gây được hiệu quả tốt về sự kết hợp tính hiện đại của khối nhà với những chi tiết trang trí khai thác từ kiến trúc truyền thống.
Kiến trúc ngân hàng là một phạm vi hoạt động nghề nghiệp mà các kiến trúc sư ở miền Nam đã có những đóng góp đáng kể. Ngân hàng Việt Nam Thương tín cao 11 tầng ở vị trí góc phố Tôn Thất Đạm và đại lộ Hàm Nghi đã cho thấy dấu hiệu về sự tìm đến kiến trúc hiện đại thế giới với sự đóng góp của nhiều kiến trúc sư. Phương án được chọn để thực hiện là của kiến trúc sư Phạm Văn Thâng. Cùng theo tinh thần khai thác kiến trúc hiện đại thế giới có thể kể đến kiến trúc của nhiều ngân hàng khác như Ngân hàng Trung Nam (góc phố Nguyễn Công Trứ và Nam Kỳ Khởi Nghĩa) của Văn phòng Kiến trúc sư Hoa – Thâng – Nhạc. Việt Nam Công thương Ngân hàng do kiến trúc sư Trần Văn Ba thiết kế cũng như các công trình dịch vụ về thương mại, tài chính như: Trụ sở Công ty Bảo hiểm V.A.R (Lê Văn Lắm), Thương xá Crystal Palace (Ngô Viết Thụ).
Vào các năm 1965 – 1970 còn có các công trình Trung Nam Ngân hàng (Phạm Văn Thâng).
Về khách sạn và nhà ở, sớm nhất là Khách sạn Caravelle (nay là Khách sạn Độc Lập) khởi đầu do kiến trúc sư Masson người Pháp thiết kế, nhưng sau khi Pháp rút lui khỏi miền Nam thì Văn phòng Kiến trúc Hoa – Thâng – Nhạc thiết kế, xây dựng năm 1956, khánh thành năm 1962. Khách sạn 11 tầng này từng được coi là “tối tân và đẹp nhất ở Sài Gòn”.
Không thua kém về mức độ trang bị hiện đại, công trình REX hotel của kiến trúc sư Lê Văn Cấu và Crystal Palace hotel (nay là Khách sạn Hữu Nghị) ở góc đường Nguyễn Huệ – Ngô Đức Kế là sáng tạo của kiến trúc sư Vũ Bá Đính được đánh giá là hiện đại và trang nhã.
Kiến trúc nhà ở không phải là lĩnh vực được quan tâm nhiều, tuy cũng có xây dựng nhiều khu cư xá như Phú Lâm, Trương Minh Giảng, Tân Thuận Đông… Một số khu ở của công chức thuộc tầng lớp trên trong xã hội, đặc biệt là các cư xá của cán bộ ngành ngân hàng với các kiểu biệt thư đơn lập và song lập: Ngân hàng Việt Nam Thương Tín (đường Trương Minh Giảng, Thoại Ngọc Hầu) kiến trúc sư Phạm Văn Thâng thiết kế. Cư xá Thanh Đa là hiện tượng cá biệt xây dựng nhà ở cho dân cư đông đảo trên khu đất rộng 36 hecta nằm cạnh kênh Thanh Đa và sông Sài Gòn, cấu trúc khu nhà gồm hai phần (giống như hai nhóm nhà ở trong một tiểu khu nhà ở) cho trên 5000 gia đình.
Sau năm 1975, đất nước thống nhất, phần lớn kiến trúc sư tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương tuổi đã cao, song bằng kinh nghiệm và sự từng trải, các ông vẫn tiếp tục sự nghiệp cao cả của kiến trúc sư là làm đẹp đất nước. Các ông đã chủ trì hoặc tham gia thiết kế nhiều đồ án quy hoạch đô thị ở Thủ đô và các tỉnh thành trong cả nước. Nhiều công trình lớn như Bảo tàng Hồ Chí Minh, Nhà hát Hoà Bình, Sân bay Quốc tế Nội Bài, Cung Thiếu nhi Thủ đô, các trụ sở Tỉnh uỷ, Uỷ ban Nhân dân, khách sạn, Trường đại học lớn… đã được các ông chủ trì, thiết kế hoặc chỉ đạo thực hiện đã đạt chất lượng cao. Do sớm được tiếp cận với những thành tựu của kiến trúc hiện đại thế giới, mặt khác có sự khai thác nhuần nhuyễn kiến trúc truyền thống và yếu tố khí hậu nên kiến trúc mang được sắc thái địa phương, thể hiện những đặc trưng phong cách kiến trúc hiện đại – dân tộc – nhiệt đới hóa, tao nên những tác phẩm rất phong phú, đa dạng đáp ứng với yêu cầu cách mạng và tạo được nhiều hình ảnh sinh động.
Sự đóng góp của các kiến trúc sư thế hệ đầu tiên cho bộ mặt kiến trúc ở khắp nước ta là rất đáng kể. Những hoạt động nghề nghiệp nêu trên, tuy không phải là tất cả, nhưng có thể xem là tiêu biểu cho sự nghiệp chuyên môn của thế hệ kiến trúc sư đầu tiên đã đóng góp cho nền kiến trúc mới Việt Nam.
Sự đóng góp của kiến trúc sư thế hệ đầu tiên cho Tổ quốc là vô cùng quý báu, các ông đã để lại cho hậu thế một tấm gương sáng ngời. Các ông đã đặt những viên gạch bằng công sức của mình xây dựng ngôi nhà Việt Nam, ngôi nhà – Tổ quốc của chúng ta ở thời đại vươn tới phồn vinh và hoà đồng với thế giới văn minh. Tổ quốc ghi công của các ông bằng những tấm huân chương, huy chương cao quý. Về sáng tạo văn học – nghệ thuật, thế hệ kiến trúc sư đầu tiên đã có những gương mặt tiêu biểu, được Chủ tịch nước tặng những giải thưởng cao quý:
Giải thưởng Hồ Chí Minh, đợt 1, năm 1996 cho tác phẩm của các kiến trúc sư: Nguyễn Cao Luyện, Huỳnh Tấn Phát, Hoàng Như Tiếp.
Giải thưởng Nhà nước, đợt 1, năm 2001 cho tác phẩm của các kiến trúc sư: Nguyễn Văn Ninh, Nguyễn Ngọc Chân, Đoàn Văn Minh, Ngô Huy Quỳnh, Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Quang Nhạc, Đàm Trung Phường.

LỜI KẾT
Thế hệ kiến trúc sư đầu tiên của nền kiến trúc mới Việt Nam trong lịch sử có nhiều nét đẹp, thể hiện rõ nhân cách lớn, bản lĩnh lớn, giàu sức sống, là gương sáng cho các kiến trúc sư hậu thế noi theo.
Với tay nghề và kiến thức vững vàng, giàu tính sáng tạo, song thế hệ kiến trúc sư đầu tiên lại sống trong hoàn cảnh nước mất, nhà tan. Làm kiến trúc mà không có hoà bình, đó là thiệt thòi lớn cho một thế hệ, lại là thế hệ đầu tiên. Khát vọng làm nghề cháy bỏng, ý thức dân tộc và lòng yêu nước cao, nhiều kiến trúc sư đã theo tiếng gọi của Bác Hồ, rời chốn thị thành phồn hoa lên chiến khu Việt Bắc, vào bưng biền, vượt khó khăn gian khổ để phụng sự Tổ quốc. Không ít bỡ ngỡ đứng trước cảnh bom đan tàn phá tiêu điều, vườn không nhà trống, rừng thiêng nước độc, thiếu thốn đủ bề ở chiến khu. Thư Bác Hồ gửi Hội nghị Kiến trúc sư ở Thản Sơn soi sáng: "Chúng ta phải tuỳ hoàn cảnh mà xây dựng ngay trong khi kháng chiến và sau khi kháng chiến thành công. Các kiến trúc sư đã hoàn thành sứ mệnh cao cả của Tổ quốc giao. Gia tài để lại cho các thế hệ sau chính là những nỗ lực trong quá trình hoạt động nghề nghiệp. Đó là những viên gạch đầu tiên đặt nền móng cho sự nghiệp kiến trúc Việt Nam./.

Advertisements