VIẾNG MỘ NHÀ THƠ HỮU LOAN

Bài và ảnh: ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Sáng hôm qua, 25-10-2010, KTS Nguyễn Hữu Đán (Công ty CP tu bổ di tích và thiết bị văn hóa Trung ương) – con thứ 8 trong số 10 người con của nhà thơ Hữu Loan – đã đưa xe đón chúng tôi: Vợ chồng nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng – Bác sĩ Trần Thị Nim (thành phố Hồ Chí Minh), KTS Lê Hiệp và tôi đi từ Hà Nội đến làng Vân Hoàn, xã Nga Linh, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa thắp hương tưởng nhớ nhà thơ Hữu Loan (2/4/1916 – 18/3/2010).
Chúng tôi là những người làm công tác nghệ thuật, nhưng từ lâu đã mến mộ nhà thơ Hữu Loan qua những bài thơ giàu tình người, cảm xúc mãnh liệt nhất: Đèo Cả (1947), Màu tím hoa sim (1949)…
* Chúng tôi và anh Đán (bên phải) trước bàn thờ nhà thơ Hữu Loan tại gia đình. Ảnh: Đoàn Đức Thành. * Chúng tôi cùng gia đình quây quần bên mộ nhà thơ Hữu Loan. Ảnh: Đoàn Đức Thành

* Bà Phạm Thị Nhu, phu nhân nhà thơ Hữu Loan. Ảnh: Đoàn Đức Thành* Chúng tôi cùng gia đình thắp hương tưởng nhớ nhà thơ Hữu Loan. Ảnh: Đoàn Đức Thành
Đi ngót 200 cây số đường dài, KTS Nguyễn Hữu Đán vừa lái xe vừa kể chuyện, thỉnh thoảng đọc những bài thơ của cha mình làm câu chuyện sống động và thêm sâu sắc.
Cuộc đời nhà thơ thật gian chuân. Ông học thành chung ở Thanh Hóa sau đó đi dạy học và tham gia Mặt trận bình dân năm 1936, tham gia Việt Minh ở thị xã Thanh Hóa. Năm 1943, ông về gây dựng phong trào Việt Minh ở quê hương, khi cuộc Cách mạng tháng Tám bùng nổ, ông làm Phó chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa huyện Nga Sơn. Sau Cách mạng tháng Tám, ông được cử làm Uỷ viên Văn hóa trong Uỷ ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa, phụ trách các ty: Giáo dục, Thông tin, Thương chính và Công chính. Trong kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập quân đội nhân dân Việt Nam đi chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc. Khi hòa bình lập lại làm báo Văn nghệ ở Hà Nội. Ông là người trung trực, thẳng thắn, dám nói lên lẽ phải theo cái tâm của mình suy nghĩ. Cũng vì đó mà ông bị khép vào Nhân văn – Giai phẩm. Bị đầy ải, về quê với đôi bàn tay trắng, không lương, không tiêu chuẩn, không tem phiếu. Tuy vậy ông không hề nao núng, không lấy đó làm buồn phiền, ông đã lao động hết sức mình bằng đôi bàn tay lao động chân chính để sinh sống cả gia đình. Ông không quản nặng nhọc, ngày ngày thồ đá, thồ chiếu để kiếm đồng tiền ít ỏi nuôi hơn chục miệng ăn.
Nghe anh Đán kể những chuyện đau lòng: Mẹ anh, bà Phạm Thị Nhu, thâu đêm làm bún trộm được mấy cân, ngày chợ lén lút mang đi bán. Có lần Quản lý thị trường bắt được, đổ cả rổ bún xuống mương. Tiếc của, bà vét hết cả đất cả bún đem về. Hai vợ chồng mang xuống ao rửa sạch đất, rửa qua nước sôi, cả nhà sì sụp ăn cũng vài ba bữa mới hết.
Hầu như quanh năm ăn cháo, đến cháo cũng không đủ ăn. Nồi cháo bắc ra còn nóng rẫy, múc vừa xong một vòng, hai anh lớn có biệt tài là húp cháo nóng. Dù bát cháo nóng đến đâu cũng chỉ húp mấy cái roạt là hết, đã lại thấy múc bát nữa rồi. Các em ăn hết một bát thì nồi cháo đã hết veo. Về sau quy định các em ăn trước, các anh chị ăn sau, từ đó các em mới được no, nhưng các anh chị lớn cũng mới chỉ lưng lửng ngang bụng.
Ông bà Nguyễn Hữu Loan còn khéo nuôi lợn mà hàng xóm không ai biết: Lợn nuôi trong hầm tối, thế mà chăm sóc tốt nên vẫn lớn. Khi giết phải cho cám vào bao tải rồi chùm lên đầu lợn để sặc không có tiếng kêu, sau đó dìm xuống ao cho đến chết hẳn rồi làm lông, mổ sạch mà không ai biết. Cả con lợn chỉ được ăn xương, còn tất cả dán lấy mỡ cho vào chum để làm hàng dần.
Nói về nghèo không có ai nghèo hơn, cũng không có ai khổ hơn gia đình ông bà Nguyễn Hữu Loan. Dẫu nghèo khổ ông vẫn luôn gương mẫu. Buồn, ông không cho phép uống rượu, hút thuốc giải sầu. Chỉ biết im lặng.
Theo gương cha, các con ông không ai biết uống rượu hay hút thuốc lá. Cha luôn dậy các con phải chăm chỉ lao động và lấy chữ nghĩa làm đầu. Các con ai cũng học giỏi. Nhưng rồi hết con lớn lại đến con bé, thi đỗ vào đại học hay trung cấp đều bị chính quyền địa phương ngăn trở không cho đi học. Thế là các con lại lao vào con đường lao động chân tay kiếm sống. Ngay như Đán cũng phải học nghề hàn 5 năm trước khi vào đại học. Vào trường vừa học vừa đi làm nghề để có tiền ăn học.
Chúng tôi đến nơi thì bà Nhu và các anh chị em của Đán đã có mặt đầy đủ. Chúng tôi đã lễ trước bàn thờ và lên núi Vân Hoàn thắp nén nhang trước mộ – nơi nhà thơ Hữu Loan an nghỉ giấc ngàn thu./.* Chúng tôi cùng gia đình quây quần bên mộ nhà thơ Hữu Loan. Ảnh: Đoàn Đức Thành
—————————————————–

TRANG THƠ HỮU LOAN

MÀU TÍM HOA SIM

(Năm 2004, Công ty CP Công nghệ Việt (ViTek VBT) đã mua bản quyền bài thơ này 100 triệu đồng).

Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng
Có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi người Vệ quốc quân
xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn
nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
đôi giày đinh
bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa
Nhớ về ái ngại
Lấy chồng thời chiến binh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
thì thương
người vợ chờ
bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết
người trai khói lửa
Mà chết
người gái nhỏ hậu phương
Tôi về
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
không được nghe nhau nói
không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa
một mình đèn khuya
bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa…

Một chiều rừng mưa
Ba người anh trên chiến trường đông bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về
cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi hoa sim
Những đồi hoa sim
những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm, mẹ già chưa khâu…

Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu…
[/I][/B]

(1949, khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)

ĐÈO CẢ

Núi cao vút
Mây trời Ai Lao
sầu
đại dương
Dặm về heo hút
Đá bia mù sương
Bên quán Hồng Quân
người
ngựa
mỏi
Nhìn dốc ngồi than
thương ai
lên đường
Chầy ngày
lạc
giữa suối
Sau lưng
suối vàng
xanh
tuôn
Dưới khe
bên suối độc
cheo leo
chòi canh
ven rừng hoang
Những người
đi
Nam Tiến
Dừng lại đây
giữa
đèo núi quê hương
Tóc tai
trùm
vai rộng
Không nhận ra
người làng
Rau khe
cơm vắt
áo
pha màu
sa trường
Ngày thâu
vượn hót
Đêm canh
gặp hùm
lang thang
Gian nan lòng không nhợt
Căm hờn trăm năm xa
Máu thiêng trôi dào dạt
Từ nguồn thiêng ông cha

Giặc
từ trong
tràn tới
Giặc
từ Vũng Rô
bắn qua
Đèo Cả
vẫn
giữ vững
Chân đèo
máu giặc
mấy lần
nắng khô
Sau mỗi trận thắng
Ngồi bên suối đánh cờ
Kẻ hái cam rừng ăn nheo mắt
Người vá áo thiếu kim mài sắt
Người đập mảnh chai vểnh cằm cạo râu

Suối mang
bóng người
Trôi những về đâu….

HOA LÚA

Em là con gái đồng xanh
Tóc dài vương hoa lúa
Đôi mắt em mang chân trời quê cũ
Giếng ngọt, cây đa
Anh khát tình quê ta trong mắt em thăm thẳm
Nhạc quê hương say đắm
Trong lời em từng lời
Tiếng quê hương muôn đời và tiếng em là một
Em ca giữa đồng xanh bát ngát
Anh nghe quê ta sống lại hội mùa
Có vật trụi, đánh đu, kéo hẹ, đánh cờ
Có dân ca quan họ
Trai thôn Thượng, gái thôn Đoài hai bên gặp gỡ
Cầm tay trao một miếng trầu
Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Quê hương ta núi ngất, sông đầy
Bát ngát làng tre, ruộng lúa
Em gái quê hương mang hình ảnh quê hương
Xa em năm nhớ, gần em mười thương
Còn bàn tay em còn quê hương mãi
Em mang nguồn ân ái
Căng ngực trẻ hai mươi
Và trong mắt biếc nhìn anh
Em gái quê si tình
Chưa bao giờ được yêu đương trọn vẹn…

Anh yêu em muôn vàn như quê ta bất diệt
Quê hương ta ơi từ nay càng đẹp
Tình yêu ta ơi từ nay càng sâu
Ta đi đầu sát bên đầu
Mắt em thăm thẳm đựng màu quê hương.

(1955)

ĐÊM

Những đêm Hà Nội ngày xưa
Trằn trọc
Không yên
Những cửa
Từ đầu hôm
Như những mắt nhắm nghiền
Bóng nhà bóng cây
Ôm nhau
Run sợ
Đêm Hà Nội ngày xưa
Như con bệnh hạ xoài
Nung mủ
Như một nhà thương điên
Lên cơn hôn mê
Thiết giáp
Xe tăng
Lính tẩy
Phòng Nhì.
Tiếng rú của người
Tiếng rít của xe
Những chiếc jeep điên
Đuổi gái
Nghiến người
Quắc mắt đèn pha
Đỏ tia đòng đọc
Đêm Hà Nội ngày xưa
Đầu người
Và tình yêu
Treo
Trên đầu sợi tóc
Và sau từng đêm
Mệt nhọc
Hốc hác
Hồ Gươm
Như mắt thâm quầng

Hốt hoảng gọi nhau
Không kịp vớ áo quần
Những đêm Hà Nội ngày xưa
Loã lồ
Mình đầy ung độc
Đã xuống tàu đêm
Vào Sài Gòn
Tất cả
Những đêm Sài Gòn
Ngày mai
Đêm giang mai
Tẩu mã
Đang mâng
Cấp cứu gấp vạn lần
Những đêm xưa Hà Nội
“10$ 1 cốc cà phê
100$ con gái…”
Quảng cáo đóng đầy
Ngực đêm
Như áo ngủ Sài Gòn

Đêm Hà Nội
Ngày nay
Như em nhỏ nằm tròn
Ru trong nôi chế độ
Những đèn dài đại lộ
Như những tràng hoa đêm
Nở long lanh
Trong giấc ngủ
Bình yên
Ngã Tư Sở, Cống Vọng, Khâm Thiên
Nằm ngủ
Những đêm
Giữa tình cảm lớn
Gió đêm về
Thơm hoa rừng, lúa ruộng
Đặt bàn tay
Lên những cửa ô nghèo
Khi chúng ta về
Ánh sáng
Đã về theo
Và từng cặp người yêu
Đem về trong giấc mơ
Hình ảnh hồ Gươm
Đẹp như hồ thần thoại
In bóng người yêu
Chung thuỷ
Đợi chờ.

(6-56)

TÌNH THỦ ĐÔ

Trên những chuyến xe bò
Đi về đường Trèm Vẽ
Việt Bắc âm u
Đường dài Thanh Nghệ
Người Thủ đô tản cư
Đoàn xe đi
Chở nặng tâm tư
Một góc nhà
Một hè phố
Mắt em biếc
Một chiều xưa
Quan Thánh
Cổ Ngư
Bạch Mai
Bóng liễu Tháp Rùa
Một thằng bạn
Một thằng con
ở lại

Khấp khểnh xe đi
Vấp vào đêm tối

Thủ đô
Ngày mùa thu

Thủ đô
Cờ bốc lửa
phố dài
Cờ bốc lửa
công trường Nhà Hát lớn.

Thủ đô
Ngày Tổng Khởi Nghĩa
Ngày Thủ đô chờ đón
Đoàn Giải phóng quân về
Qua cầu Long Biên
Sông bóng người đi
Vai cao rộng
Mặc núi rừng Việt Bắc
Ai về Thủ đô
Khăn thầm nước mắt
Quốc ca mình
Đoàn lính Việt đầu tiên
– Có người làng đi
Trong đoàn lính trẻ.

Thủ đô
Tuần Lễ Vàng
Hà Nội dãy dọc toà ngang
Quên giai cấp
Trong căm thù dân tộc

Thủ đô
Ngày Tuyên Ngôn Độc Lập

Thủ đô
Ngày Tổng Tuyển Cử đầu tiên
Những ngày Thủ đô
Như ộc máu triền miên
Máu những người Tây giết
Chảy về từ lịch sử
Tiếng hát
Vùng lên
Xích xiềng rơi vỡ.

Thủ đô
Ngày Tàu trắng
Quốc dân đảng
Và thực dân
Nghênh ngang phố chật
Bắt cóc
Tống tiền
Khiêu khích
Bắn người
Đám ma đi
Cờ đỏ phủ quan tài
Phố Ôn Như Hầu
Những người bị giết
Xác quăng đầy hố
Đoàn Giải phóng quân đi
Như gại dao trên đường nhựa.

Thủ đô
Quân lệnh đêm
Lựu đạn đen ngòm trong nắm tay
Rình sau mái ngói

Nắng loé tường vôi
Chữ cào xương nhức nhối:
THANH NIÊN SỐNG CHẾT VỚI THỦ ĐÔ!
Mắt em thiếu nhi
Hồ trăng Trung Thu:
Các anh hãy giữ non sông
Cho chúng em!
Bàn tay lớn
Nhận lòng tin bé nhỏ.

Cụ Hồ hỏi anh em bộ đội:
– Các chú liệu giữ được Thủ đô
Bảy ngày?
Một rừng nắm tay
Thét tiếng:
– Thề với Bác!

*

Lửa cháy Thủ đô
Chân trời hấp hối
Xác thằng bạn
Xác thằng con
Trên hè phố Thủ đô
Giặc khởi hấn rồi!
Đường tản cư khuya
Lửa toé sắt bánh xe bò
Một Quyết tử quân hy sinh
Là một đoàn giặc chết
Một Quyết tử quân hy sinh

Và bắt đầu từ đó
Những ngày đêm Thủ đô
Tàn sát
Khu Đồng Xuân
Lính Trung đoàn Thủ Đô
Đâm giặc trên bàn thịt
Như chọc tiết bò
Đuổi giặc
Vật lăn trên nóc chợ

Hai tháng giết nhau
Một đêm thủ đô
Có đoàn Quyết tử
Cắt máu tay ăn thề
Ngõ vắng Thủ đô
Những đơn vị rút đi
Góc phố Thủ đô
Bóng những người ở lại
ánh hoàng hôn lên
Liệm tròn huyết thệ
Người Quyết tử quân
cuối cùng.

*

Những người dân Thủ đô
Về với giặc ở chung
Phải đốt cờ đỏ sao vàng
Thức đêm may cờ ba sắc
Và những sớm mai
Tay xót xa
Đem treo cờ giặc trước nhà
Ai về Hà Nội
Thấy Hà Nội xa hoa
Thấy hà-nội hơn Hà Nội trước
Nhưng Hà Nội
Giặc xây thêm ngục tù
Xe Phòng Nhì
Chở từ ngoại ô
Từng đoàn người xiềng tay
Về qua phố tối.
Ai về Hà Nội
Thấy Hà Nội xa hoa
Thấy hà-nội hơn Hà Nội trước
Nhưng Hà Nội Ngã-Tư-Sở
Hà Nội Khâm-Thiên
Đèn khuya chảy vàng
Những hộp đêm
Mọc theo tiếng giày đinh
Của đoàn Tây mũ đỏ
Tiếng xe tăng viễn chinh
Chiều đi bụi phố
Và giữa trưa Hà Nội yên lành
Hồi còi rú thất thanh
Kêu như người tắc họng
Một xác Việt gian
Ngã tư
nắng đọng

Lũ lượt kéo nhau về Hà Nội
Từng đoàn thiêu thân
Mang trong mình định mệnh
Mủ đờm nhớt lạnh
Và uế khí hôi tanh
Sợ ánh sáng và gió lành
Tôi thành thép
Cánh tay người Kháng Chiến

Từ vùng tự do
Có người vào nội thành
Ném chứng thư Việt Minh
Trên dòng sông
Chào thằng bạn chiến khu
Mà phục tấm lòng.

Đêm Thủ đô
Rét đến
Trong chăn bông
Nghe lạnh chiến khu Vũ
Cơm gia đình
Đũa bát nhớ người đi.
Và những sớm mai
Từng đoàn phi cơ giặc
Chở tóc tang đầy trong thân sắt
Ra những miền quê xanh
Tiếng bom dội về
Chuyển Hà Nội mênh mông
Tìm người Hà Nội
Rung lên như đất chuyển
– Những người Thủ đô tản cư
– Những đồng bào kháng chiến.

Những em mùa thu
Đi trong đoàn thiếu nhi
Lớn lên
Tìm đường chiến khu Việt Bắc.
Những người ngày xưa
Ghét Việt Minh
Bắt đầu chờ đợi
Bao giờ Việt Minh
Mới đánh vào Hà Nội
Cho ánh sáng xa hoa
Vỡ rơi thành bóng tối
Trên xác người máu me
Ngổn ngang gạch ngói?
Đến bao giờ Việt Minh
Mới đánh vào Hà Nội?

Những người bắt sống Le Page
và Charton
Những chiến sĩ Cao Bằng – Đông Khê
Những binh đoàn biên giới
Đang chuyển về Trung Du
Như đi từng dãy núi
Kẹp vòng quanh ngoại vi Thủ đô.
Mắt vời xa
Cô gái Hà Nội tản cư
Đẹp trong màu áo vải quê mùa
Sẽ còn những ai
Trong đoàn quân trở lại
Ngày thủ đô chiến thắng tưng bừng?

*

Em về Thủ đô
Chân phố cũ
Ngập ngừng

Khoảng cuối 1950 – đầu 1951
(Dương Tường & Mạc Lân ghi lại theo trí nhớ.)

NGÀY MAI

Khi nắng chiều tắt thở
Trên hàng cau úa vàng
Bóng từng đoàn nạng gỗ
Đi kêu trên đường làng
Đàn ai
Trong chiều tàn
Tiếng âm rơi
Tan vỡ
Có đem dư hưởng về
Xa thẳm
Em đến
Mồ xưa biếc cỏ vàng
Em hiền như chị
Mắt ngời xanh lam
Em mang trong tóc
Nắng thơm hoa ngàn
Em là đôi mắt
Xưa ngời xanh lam
Của chàng lính trẻ
Say em hát
Ngồi lặng hình dung
Mắt một nàng
Em là chân mất
Là tay mất
Của một chàng trai
Của một chàng
Áo quần loang vết mủ
Vết thương nhày
Hôi tanh
Em đem về giặt giũ
Chong đèn
Vá thâu canh
Mai những người vui
Có áo lành
Bờ ao vang tiếng cú
Một bông hoa
Lìa cành
Kim chùng
Tay rớm máu
Long lanh
Ngày mai em đi khỏi
Ai thương người
Thương binh?
Rằng:
– Em từ đâu lại?
Mắt lam màu
Xa vời
Ngày xưa có
Chuyện đẹp
Nàng tiên đi
Thử người!

TÒNG QUÂN

Nếu anh ra đi
Mẹ già anh khóc
Trai thời loạn ly
Thương con khó nhọc

Nếu anh ra đi
Người vị hôn thê
Những giọt nước mắt
Đọng trên hàng mi

Nhưng
Nếu anh không đi
Mẹ già anh khóc
Trai thời loạn ly
Mà con không đi

Mẹ thà thương con tóc trắng
Ngày mai cờ về chiến thắng
Mà con không về

Mẹ thà như lá rụng chiều quê
Đến khi con về
Cỏ vàng nấm đất

Nhưng khi nước mất
Vì vị hôn thê
Mà con không đi

Nếu anh không đi
Người vị hôn thê
Mặt nghiêng tay che

Đêm thương lời thề
Thà đợi người đi
Già trên lời thề

Nhưng khi nước mất
Mà anh không đi…

(Nhà thơ Dương Tường nhớ và ghi lại)

Advertisements