1000 NĂM – BA ĐÌNH – MỘT TRUNG TÂM THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Bài và ảnh: KTS ĐOÀN ĐỨC THÀNH

Nhìn trên bản đồ quy hoạch hiện trạng thành phố Hà Nội năm 1890 của người Pháp, thì ngày ấy khu vực Ba Đình vẫn là trại Hàng Hoa và ruộng lúa ao chuôm nằm sát ngay phía Tây chân thành Hà Nội vừa bị phá hoàn toàn cách đó 3 năm. Bản đồ quy hoạch năm 1902 do các kỹ sư công binh người Pháp thiết kế đã có khu phố Tây ở phía Nam hồ Hoàn Kiếm và phía Tây Bắc khu phố cổ. Thời điểm đó kề bên đường Hùng Vương đang xây dựng Phủ Toàn quyền và sân vườn chung quanh. Kề bên góc vườn phía Nam trên đường Hùng Vương tạo một Quảng trường Tròn (Rond point Puginier) còn gọi là Quảng trường Puginier (tên của một Linh mục người Pháp).
Năm 1924, kiến trúc sư thiên tài Ernest Hébrard đã quy hoạch mở rộng thành phố Hà Nội. Đồ án này tạo nên một khu Trung tâm Chính trị Liên bang Đông Dương, tâm điểm là Quảng trường Tròn, ở vị trí cao đẹp nhất. Các công trình quan trọng bám chung quanh. Từ tâm điểm này của trục trung tâm tỏa ra hai đường chéo vuông góc 45 độ, một nhánh kéo ra bờ sông Hồng, một nhánh đi vào khu phố Tây ở phía Nam thành phố. Ngay phía trước Quảng trường Tròn tạo thành một hình thoi ở giữa và các hình tam giác đối xứng hai bên. Đồng thời mở rộng thành phố về phía Tây. Đáng tiếc là đồ án này không thực hiện hoàn chỉnh do khó khăn về kinh tế. Một thời gian sau, năm 1936, kiến trúc sư Cerutti lại đưa ra bản quy hoạch trên cơ sở quy hoạch trước đây, song chi tiết hơn. Năm 1943, kiến trúc sư L.G. Pineau lại chỉnh trang thêm một lần nữa, vẫn xác định lấy Quảng trường Tròn làm trung tâm, mở rộng thành phố về phía Tây và Tây Nam. Những đồ án quy hoạch trên đây, chứng tỏ Quảng trường Tròn tức quảng trường Ba Đình ngày nay đã có từ năm 1902, nơi đây là trung tâm của thành phố Hà Nội.
Tên Quảng trường Ba Đình do bác sĩ Trần Văn Lai, người giữ chức Thị trưởng thành phố Hà Nội từ ngày 20-7 đến 19-8-1945 (dưới trào Chính phủ Trần Trọng Kim) đặt vào thời điểm này. Sở dĩ Thị trưởng đặt tên là Quảng trường Ba Đình vì ông cảm phục nghĩa quân Đinh Công Tráng đã chống Pháp rất anh dũng ở căn cứ Ba Đình, Thanh Hóa cuối thế kỷ 19.
Sau khi Tổng khởi nghĩa trong cả nước vào ngày 19-8-1945, Bác Hồ đã chọn ngày làm Lễ Tuyên ngôn Độc lập là ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội.

Gần đến ngày tuyên bố độc lập, Bác Hồ cho mời ông Nguyễn Hữu Đang lên giao nhiệm vụ gánh trọng trách lo công tác tổ chức cho ngày Lễ độc lập. Khi giao nhiệm vụ, Bác nói: "Đây là sự kiện quan trọng vì Cách mạng Tháng Tám đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc này khó nên mới giao cho chú". Công việc chuẩn bị dựng lễ đài bắt đầu từ ngày 28-8 và phải hoàn tất trong ngày 1-9. Là người có kinh nghiệm tổ chức nên ngay lập tức, ông Nguyễn Hữu Đang cho mời ông Phạm Văn Khoa lúc đó là Trưởng ban Văn hoá cứu quốc, cùng kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh và hoạ sĩ Trần Đinh Hàn để chuẩn bị nơi đây cho một cuộc mít tinh lớn tập trung vài vạn người cho buổi lễ Tuyên ngôn Độc lập. Kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh được giao thiết kế và chỉ huy nhóm thợ mộc lắp dựng Lễ đài Ba Đình. Ông đã xác định vị trí đặt Lễ đài ở chính tâm Quảng trường Tròn trước đây, nhìn về hướng Đông, là vị trí trang trọng nhất, phía trước là bãi cỏ rộng rãi . Từ vị trí này ông xác định chiều cao, chiều rộng Lễ đài để mọi người dự có thể nhìn thấy rõ. Sau khi thống nhất phương án, mỗi người tỏa đi tìm thợ mộc giỏi, lo gỗ ván và vải trang trí. Trong một ngày một đêm vừa thiết kế vừa dựng lắp đã tạo thành bộ khung cột vuông vức, có rầm sàn và giằng chéo bên trong vững chãi. Mặt sàn là những tấm ván dày được đóng đinh xuống hệ thống rầm ngang dọc ở bên dưới chắc chắn, có lan can vây quanh bảo đảm an toàn. Những người thợ tinh xảo không những đã lắp rất khít mặt sàn mà còn bào nhẵn, đầu đinh đóng ngập sâu vào trong mặt ván sàn để tránh vấp. Hai bên có hai khối vuông trên đặt lư hương to cũng bằng gỗ, chính giữa dựng cột cao treo cờ Tổ quốc. Phía sau dựng một thang gỗ, mặt bậc bằng ván có tay vịn lên xuống thoải mái. Bộ khung dựng lắp xong tiến hành phủ vải trang trí. Vải được phủ thành một mảng vàng nhạt bên trên, có trang trí bằng những vòng tua màu đỏ, ở dưới phủ toàn bộ vải màu đỏ và gắn ngôi sao vàng năm cánh ở chính giữa thành một lá cờ đổ sao vàng lớn. Công việc hoàn thành theo đúng dự kiến để 14h ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra mắt quốc dân đồng bào và Người trịnh trọng tuyên bố bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước toàn thể quốc dân đồng bào và toàn thế giới.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, thủ đô Hà Nội bị tạm chiếm (1947-1954), Phủ Toàn quyền thực dân Pháp e ngại tên gọi Ba Đình nhân dân dễ tưởng nhớ đến Nhà nước Dân chủ Cộng hòa nên chúng đổi thành vườn hoa Hồng Bàng. Sau này có ý kiến đặt tên là Quảng trường Độc Lập, song Bác hồ vẫn quyết định giữ Quảng trường Ba Đình.
Ngày 10-10-1954, hoà bình lập lại, Thủ đô được giải phóng, Quảng trường Ba Đình lại trở thành địa danh lịch sử của Hà Nội.
Tháng 9-1954, các cơ quan đoàn thể từ chiến khu trở về Hà Nội. Kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh được giao trực tiếp thiết kế, xây dựng Lễ đài và Đài Liệt sĩ xây dựng ở Quảng trường Ba Đình để phục vụ cuộc mít tinh của hàng vạn nhân dân Hà Nội đón Hồ Chủ tịch, lãnh đạo Đảng và Chính phủ về Thủ đô ngày 1-1-1955. Công trình Lễ đài Ba Đình 1-1-1955 đặt ở đúng vị trí Lễ đài Ba Đình năm 1945. Lễ đài mới có dáng dấp như tam quan hai tầng, bố cục đối xứng, ở giữa nhô cao, thấp dần về hai bên. Phần đế vững chãi, ở giữa có ba cửa cuốn vòm lớn, chạy dài theo bề mặt Quảng trường, gắn nhiều dãy bục gỗ đứng từ thấp lên cao, chứa đựng hàng mấy trăm đại biểu. Tầng hai là lễ đài chính – nơi Bác Hồ, Đảng và Chính phủ đứng vẫy chào nhân dân Thủ đô – trên có mái đua che mưa nắng, ở giữa có ba cửa đi thông sang các phòng khách và cầu thang ở phía sau. Khối lễ đài chính nhô cao, trên đó nổi bật bức chân dung Hồ Chủ tịch khổ lớn. Bộ mái lớn xòe ra bốn phía, bốn góc có tàu đao cong. Mái phụ và khối hai bên thấp hơn, cũng cong như mái đình truyền thống. Toàn bộ lễ đài toát lên vẻ trang nghiêm, đậm đà tính dân tộc, giản dị mà gần gũi, phảng phất chút tâm linh. Tuy công trình vừa thiết kế vừa thi công trong hai tháng, xây dựng tạm thời bằng gỗ ván, kết cấu tháo lắp nhiều lần, song bút pháp và phong cách nghệ thuật của ông đã nghiễm nhiên chiếm lĩnh tình cảm của nhân dân và khách nước ngoài. Công trình tồn tại đến năm 1958 thì dỡ bỏ để xây lại bằng vật liệu kiên cố hơn.
Tại Quảng trường Ba Đình lần đầu tiên xuất hiện Đài Tổ quốc ghi công liệt sĩ, khối kiến trúc vươn theo hình trụ vuông cao vút mà trước đây chưa từng có. Đài liệt sĩ bằng gỗ, nhỏ dần theo chiều cao, kết thúc bằng bộ mái cong, chính giữa nổi bật ngôi sao vàng và hàng chữ “Tổ quốc ghi công”, lư hương được đặt trang trọng ở chính giữa, dưới cùng là bậc tam cấp. Vào đầu cuộc mít tinh, Bác Hồ, lãnh đạo Đảng và Chính phủ, Quân đội đã đặt vòng hoa mặc niệm tưởng nhớ đến các liệt sĩ đã anh dũng hi sinh vì Tổ quốc. Đài liệt sĩ đã gây cảm xúc mạnh bởi đã khai thác kiến trúc truyền thống vào từng chi tiết, tạo sự gần gũi mà trang nghiêm, được cả nước coi là khuôn mẫu để làm theo.Cũng chính nơi đây, thêm một lần nữa kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh thiết kế Lễ đài Ba Đình năm 1960 bằng gạch, bê tông kiên cố, mái bằng, có đường nét kiến trúc hiện đại hơn, công trình được khánh thành vào năm 1960. Lễ đài này và Quảng trường Ba Đình lịch sử là nơi chứng kiến những cuộc mít tinh lớn nhân dịp ngày 1-5 và 2-9 hàng năm. Ngày 9-9-1969, nơi đây đã chứng kiến lễ truy điệu Người cha già vĩ đại của dân tộc. Đồng chí Lê Duẩn đọc diễn văn bày tỏ lòng thương tiếc Người vô hạn của đồng bào, đồng chí và đọc bản Di chúc của Hồ Chủ tịch.
Đảng và Nhà nước đã quyết định xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại địa điểm Lễ đài Ba Đình trên Quảng trường Ba Đình.
Từ năm 1975, các kiến trúc sư, các nhà khoa học, đồng bào ta ở trong nước và kiều bào ở nước ngoài đã tham gia các đợt sáng tác kiến trúc, đóng góp ý kiến các phương án Lăng Bác Hồ. Phương án thiết kế Lăng Bác có sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô (cũ) về mặt kỹ thuật bảo quản thi hài Bác. Phương án có sự giúp đỡ của kiến trúc sư Mê-den-xép về những nét cơ bản. Kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân chủ trì về phía Việt Nam đã tổng hợp đúc kết từ nhiều đợt nghiên cứu và ý kiến lãnh đạo của Nhà nước ta đưa ra phương án đã được nhất trí giữa ta và bạn chọn để tiến hành thiết kế thi công. Lăng có mặt bằng hình vuông, gồm ba phần chính:
Bệ Lăng kết hợp với lễ đài cao 9m, bên dưới dật làm ba cấp. Cấp dưới cùng dài 35m, ở chính giữa mặt trước có cửa chính vào Lăng, trước mắt nổi bật hàng chữ vàng trên nền đá đỏ: “Không có gì quý hơn độc lập thư do” và chữ ký của người. Hai bên có cầu thang lên xuống, có chiều dài vừa đủ để nhiệt độ giảm dần thích nghi với nhiệt độ phòng thi hài. Cấp bệ giữa dài 25,8m. Bệ trên cùng 20m, có kết hợp làm lễ đài cho khoảng 50 lãnh đạo và quan khách đứng.
Phần thân Lăng có phòng thi hài hình lập phương mỗi cạnh 10m, chung quanh có sáu hàng cột chia mặt Lăng thành năm gian, tạo cảm giác như mái hiên của ngôi nhà năm gian.
Phần mái có tam cấp, cấp dưới cùng dài và cao nhất, hai đầu vát chéo, mặt chính giữa có hai hàng chữ Chủ tịch Hồ – Chí – Minh. Hai cấp tiếp theo hình cạnh thẳng. Đỉnh mái cao 21,6m.
Toàn bộ Lăng được ốp đá hoa cương, màu sắc từng khu vực khác nhau để phù hợp với độ bền công trình, sự trang nghiêm và tình cảm con người.Hai bên Lăng có lễ đài phụ, dài 66m, có nhiều cấp đứng từ thấp lên cao, đáp ứng cho gần 1000 quan khách đứng. Phía trước Lăng là đường Hùng Vương kề với Quảng trường Ba Đình, diện tích 3,2 hecta, trong đó có 168 ô cỏ. Đường Bắc Sơn cũng là trục đường chính trước Lăng. Con đường này từ năm 1902 KTS E. Hesbrard thiết kế xuyên qua thành cổ vào khu phố cổ, thì nay được khơi thông đến đường Hoàng Diệu. Trên đó có Đài Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do Tổ quốc. Phía sau Lăng là vườn hoa, nơi trồng các loại cây và hoa thơm hoa đẹp của nhân dân khắp miền Nam Bắc đem đến trồng.
Lăng Bác khởi công đúng ngày 2-9-1973 và khánh thành ngày 29-8-1975. Từ Quảng trường Tròn đến Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trải qua 108 năm, với thời gian ấy luôn được xác định là vị trí trung tâm, kể từ khi có quy hoạch Hà Nội.,
Công trình Lăng Bác đã gắn với cảnh quan chùa Một Cột, còn gọi là chùa Diên Hựu hoặc Liên Hoa Đài. Ngôi chùa gắn với vườn phía sau Lăng Bác, đủ khoảng cách cần thiết để tôn nhau lên mà không lấn át lẫn nhau. Chùa Một Cột có từ thời Lý, khởi công năm 1049, đến thời nhà Trần đã sửa lại. Giữa thế kỷ 19 chùa được xây thêm mấy gian, phía trước có cổng vào. Đầu thập niên 1920 chùa được trùng tu, xây tường bao quanh hồ. Năm 1954, trước khi Pháp rút khỏi Hà Nội đã phá sập chùa Một Cột. Năm 1955, Nhà nước ta đã xây dựng lại như ngày nay.
Phủ Toàn quyền Đông Dương (Gouvernement Général de L'Indochine) do KTS Henri Auguste Vildieu thiết kế, được xây dựng trong những năm 1900-1906 ở phía Bắc của Lăng Bác hiện nay. Công trình được xây dựng 3 tầng và một tầng hầm, theo phong cách kiến trúc Phục Hưng, Cổ điển châu Âu, có quy mô hoành tráng, uy nghiêm và quyền lực. Công trình nằm trong khuôn viên rộng lớn trước đây gọi là trại Hàng Hoa. Nơi đây được tổ chức thành không gian vườn, có cây bóng mát, cây hoa gắn kết với hồ ao ở bên, diện tích hơn 14 hecta. Kề phía sau là vườn Bách Thảo rộng lớn bên cạnh hồ Tây.
Sau khi Nhà nước ta nắm chính quyền, ngày 3-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh bãi bỏ các cơ quan thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương và thiết lập Chính phủ lâm thời đóng tại Phủ Chủ tịch.
Ngày 19-12-1954, Bác Hồ đã về Phủ Chủ tịch. Tuy vậy, Bác chỉ tiếp khách ở trong tòa nhà Phủ Chủ tịch, hàng ngày bác ăn ở và làm việc tại ngôi nhà một tầng gần đó, sau này gọi là nhà 54. Ngôi nhà này vốn là nơi ở của người thợ điện trước đây, sau này đã được sửa lại để Bác ở và làm việc. Bác đã ở ngôi nhà này đến ngày 18-5-1958 thì chuyển lên Nhà sàn.
Vào cuối năm 1957, bác cho gọi KTS Nguyễn Văn Ninh đến để thiết kế ngôi nhà cho Bác ở và làm việc. Sau khi tìm hiểu những ngôi nhà sàn của Bác ở trước đây ở Việt Bắc và ngôi nhà Bác đang ở tại Phủ Chủ tịch, KTS Ninh đã trình bày kiểu Nhà sàn để Bác góp ý. Mọi ý tưởng đều được chấp nhận, chỉ có khu vệ sinh tắm rửa là Bác không đồng ý để trong nhà sàn mà dùng chung với khu cán bộ công nhân viên ở phía sau.
Thời gian thiết kế kỹ thuật nhanh chóng, chỉ còn chờ ngày thuận tiện là thi công. Sau Tết Mậu Tuất, vào tháng 2-1958, Cục Doanh trại thuộc Tổng cục Hậu cần- Bộ Quốc phòng nhận được lệnh chuẩn bị vật liệu và thi công ngôi Nhà sàn theo đồ án thiết kế, công việc tiến hành bí mật và khẩn trương. Bước đầu, lựa chọn một số chiến sĩ có tay nghề mộc cao tiến hành chọn gỗ, đục đẽo trong chiếc lán độc lập, kín đáo ở Cục Doanh trại trên phố Hoàng Diệu, Hà Nội. Gia công phần mộc xong, vào trung tuần tháng 4-1958, xe ô tô được bí mật chuyển vật liệu vào Phủ Chủ tịch trong mấy buổi tối. Ngày 15-4-1958 chính thức khởi công xây dựng, gần 30 chiến sĩ Cục Doanh trại đã khẩn trương thi công. Người lắp dựng nhà, người làm đường, tạo sân vườn, trồng cây; người đào vét ao, kè bờ, xây bậc…chẳng bao lâu đã hình thành một cảnh quan kiến trúc mới, đẹp đẽ và nên thơ. Không gian rộng mở. ngôi Nhà sàn hoà vào ao cá đằng trước, sân vườn chung quanh, đường đi lối lại thuận tiện.
Hai hôm sau, ngày 17-5-1958, Bác chuyển lên ở và làm việc tại Nhà sàn, thời gian 11 năm. Ngày 12-8-1969 Bác bị cảm, do sức khoẻ của Bác yếu, bác sĩ đề nghị Người không lên xuống Nhà sàn, ngày 18-8-1969 Bác chuyển hẳn xuống nhà 67, ngôi nhà họp Bộ Chính trị thời chống Mỹ và là nơi Bác qua đời vào ngày 2-9-1969.
Ngôi Nhà sàn Bác Hồ hội đủ các yếu tố thuận lợi về Phong thuỷ: Có gió mát (hướng Đông – Nam) và nước phía trước, lại có núi Nùng tạo thế dựa phía sau; gắn kết với sân vườn, cây cối, lối đi, ao cá bố cục mềm mại ở chung quanh. Mặt chính trồng cây hoa bụi thông thoáng, đón được gió mát mùa hè. Mặt sau gắn với cây cổ thụ cao xanh che nắng hướng Tây, tạo nên bóng mát, mùa đông tránh được gió mùa Đông – Bắc.
Ngôi Nhà sàn dựng lên trong một không gian đắc địa, quy tụ linh khí, có dương khí tốt, đặc trưng cho kiến trúc vùng nhiệt đới nóng ẩm nước ta.
Hình thức và nội dung ngôi Nhà sàn đều thống nhất một giải pháp kiến trúc nhằm thích nghi, hoà hợp với kiến trúc cũng như thiên nhiên chung quanh: Độc đáo mà không cô đơn; nhỏ mà không bị lấn át; hình khối đủ lớn để làm chủ thể, một điểm nhấn của không gian thiên nhiên rộng mở.
Giải pháp quy hoạch nhuần nhuyễn và tài năng sáng tạo của kiến trúc sư đã đặt ngôi nhà đúng vị trí, đúng hướng lành, khéo hoà hợp ngôi nhà với thiên nhiên, cây xanh, mặt nước, ánh sáng trời để có tầm nhìn đa chiều và phân biệt chính phụ rõ ràng. Đồng thời nội ngoại thất ngôi nhà đã tạo được nhiều cảm giác lý thú. Có nhiều góc cạnh, tiểu cảnh không gian và chi tiết kiến trúc đơn giản mà truyền cảm, đi vào lòng người.
Bố cục và tổ chức không gian ngôi Nhà sàn Bác Hồ tuy không giống như nhà đồng bào các dân tộc thiểu số ở Việt Bắc, song lại toát lên cái thần của ngôi nhà sàn, do vậy mà tạo nên sự gần gũi thân thương. Ngôi nhà tuy nhỏ, song lại mở ra một hướng phát triển mới làm thay đổi tập quán sinh hoạt của nhà sàn bà con các dân tộc miền núi: Tầng dưới để trống, là nơi làm việc, sinh hoạt chung.
Nhà hai gian chính như ngôi nhà tre gỗ của Bác ở Việt Bắc, song rộng hơn và có thêm hai đầu hồi để che mưa, che nắng sáng chiều và hành lang trước sau để Bác thư giãn, nghỉ ngơi, ngồi đọc sách báo, tiếp khách. Hầu như tận dụng hết không gian ngôi nhà, không có diện tích thừa. Tầng dưới thông thoáng là nơi Bác làm việc mùa hè, nơi họp Bộ Chính trị, cũng là nơi Bác tiếp khách, nghỉ ngơi. Lần theo bậc thang gỗ ở đầu hồi lên tầng hai, gian kề đó làm phòng ngủ và gian kế tiếp là nơi Bác làm việc mùa đông, mỗi phòng rộng 13,50 mét vuông. Vách ngăn giữa kết hợp làm giá đựng sách. Vách ngăn và trần bằng ván có nẹp nhỏ. Chiều dài nhà đo thực tế (tính theo mép cột ngoài) là 10,15 m, rộng 6,82 m . Tầng dưới cao (tính theo thông thuỷ) 2,20 m, tầng trên cao 2,62 m. Các kích thước và diện tích nhà đều ở mức cho phép tối thiểu, tiết kiệm tối đa. Cầu thang một nhịp đặt ở hướng Tây – Nam, chắn được tia nắng xiên khoai buổi chiều dọi vào phòng ngủ. Đồng thời chú ý tới yếu tố Phong thuỷ về số bậc cao (14 bậc) nằm ở “lão”, như thế là rất tốt (tính theo thứ tự “sinh – lão – bệnh – tử”). Kích thước bậc thang cũng đạt yêu cầu lý tưởng nhất, tạo sự thoải mái khi lên xuống (bậc rộng 30 cm, cao 17 cm, dài 96 cm).
Vật liệu làm nhà đều bằng gỗ, liên kết mộng ở cột kèo rầm sàn và vách chắc chắn theo thức kiến trúc Việt Nam, mái lợp ngói máy, có máng kẽm và ống thoát nước mưa. Các chi tiết lan can, tay vịn, mũi bậc cầu thang, gờ phào, cửa đều đơn giản song lại rất tỷ mỉ, tiện dụng, hợp vệ sinh. Cửa sổ kính chớp kết hợp cánh kính nâng lên xuống cho đỡ vướng, tạo nên sự sáng sủa thông thoáng, có lưới đồng ngăn ruồi muỗi vào nhà. Tất cả ngôi nhà đều để gỗ mộc, chỉ đánh vecni nhẹ, không sơn. Giá trị tư tưởng và nghệ thuật rất cao, bởi kiến trúc trong sáng, giản dị, chân thực, khiêm tốn, sinh động thể hiện được như cuộc sống thanh bạch và tao nhã của Bác.
Chung quanh Quảng trường Ba Đình còn có cơ quan Trung ương Đảng ở phía Bắc, góc đường Hùng Vương và Hoàng Văn Thụ, trước đây là Trường Albert Saraut. Một công trình kiến trúc đẹp hài hòa với các công trình kiến trúc và cảnh quan cảnh quan chung.
Hội trường Ba Đình ở phía Đông, mặt trước hướng về Quảng trường, là công trình do hai KTS Nguyễn Cao Luyện và Trần Hữu Tiềm thiết kế, xây dựng từ năm 1958, hoàn thành năm 1961, là một sản phẩm đáng ghi nhớ của chế độ Dân chủ Cộng hòa. Công trình có hội trường 1000 chỗ ngồi và các phòng họp nhỏ. Nơi đây đã diễn ra nhiều sự kiện lịch sử đối với vận mệnh đất nước, nhất là trong thời chống Mỹ. Nhiều kỳ Đại hội Đảng, họp Quốc hội ở đây. Nơi đây còn là nơi đồng bào cả nước viếng Bác khi người mới qua đời.
Để đáp ứng với yêu cầu ngày một phát triển, Nhà nước chủ trương xây Nhà Quốc hội ở phía Đông Quảng trường Ba Đình. Năm 2007 đã tổ chức cuộc thi thiết kế kiến trúc. Năm 2008, Nhà nước đã dỡ bỏ Hội trường Ba Đình và sẽ xây dựng ở vị trí này nhà Quốc hội với quy mô lớn hơn. Sáng 12-10-2009, đã khởi công xây dựng Nhà Quốc hội, gồm 2 tầng hầm và 5 tầng nổi. Đây sẽ là nơi diễn ra các kỳ họp Quốc hội và đón tiếp khách quốc tế cấp cao của Đảng. Tòa nhà Quốc hội cao 39 m, có kiến trúc hình vuông, phòng họp hình tròn ở giữa, kích thước mặt bằng 102m x 102m, tổng diện tích sàn trên 60.000 m2.
Ngoài ra, tòa nhà còn có khu vực đỗ xe ngầm quy mô 3 tầng hầm với sức chứa 500 ôtô với diện tích trên 17.000m2; đường hầm nối Nhà Quốc hội và Bộ Ngoại giao dài 60 m, có 2 phần đường dành cho người đi bộ và dành cho ôtô.
Đường Bắc Sơn sẽ được xây dựng thành Quảng trường, bảo đảm tổ chức đón tiếp các nguyên thủ quốc gia theo nghi lễ nhà nước khi tổ chức ngoài trời, có hệ thống đài phun nước chìm tạo cảnh quan phía trước Nhà Quốc hội.
Nhà Quốc hội sẽ được thiết kế là trụ sở làm việc Quốc hội, nơi tổ chức các kỳ họp và đón tiếp khách quốc tế cấp cao của Đảng và Nhà nước… Ngoài ra, tòa nhà còn có thư viện, phòng truyền thống, phòng họp báo và Trung tâm báo chí, phòng tiệc chiêu đãi của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, phòng trưng bày các hiện vật khảo cổ học tại Hoàng Thành Thăng Long, có thể phục vụ tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân và khách quốc tế.
Ngày 19-5-1990, kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Bảo tàng Hồ Chí Minh được khánh thành. Công trình do kiến trúc sư G.Ixacovivich Liên Xô (cũ) thiết kế – một công trình kiến trúc lịch sử nữa lại được xây dựng ở phía Tây Nam Quảng trường Ba Đình, gần chùa Một Cột và sau Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bảo tàng có mặt bằng hình vuông, mỗi cạnh 70m. Để khỏi lấn át Lăng, công trình đặt vát chéo một góc 45 độ, mặt chính hướng ra đường Hùng Vương, cách 260 m. Với diện tích sử dụng hơn 10.000m2, trong đó có kho bảo quản hiện vật, tầng trưng bầy, gian triển lãm, thư viện chuyên và hội trường 400 chỗ ngồi để hội họp và chiếu phim tư liệu. Tầng trưng bày gồm 3 không gian chính: Gian long trọng là trung tâm của tòa nhà, phần trưng bầy tiểu sử và phần trưng bầy các đề mục mở rộng.
Đài liệt sĩ Ba Đình có từ ngày 1-1-1955, song làm bằng gỗ, sau đó thì chuyển vào nghĩa trang Mai Dịch xây dựng bằng gạch kiên cố. Tuy nhiên đi lại không thuận tiện, nhất là những dịp kỷ niệm lớn. Trung ương Đảng và Chính phủ có chủ trương xây dựng Đài tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc tại đường Bắc Sơn, trước Quảng trường Ba Đình. Thành phố Hà Nội đã tổ chức phát động Cuộc thi sáng tác mẫu Đài Tưởng niệm, đến tháng 3-1992, phương án thiết kế của kiến trúc sư Lê Hiệp với ý tưởng tạo hình khối âm – dương, giữa mảng đặc và rỗng, giữa còn và mất, dân tộc và hiện đại, đạt độ sâu lắng cao, đã được lựa chọn để xây dựng. Công trình được khởi công xây dựng từ ngày 7-4-1993. Công trình đã hoàn thành và được tổ chức khánh thành vào ngày 7-5-1994, nhân dịp kỷ niệm 40 Chiến thắng Điện Biên phủ.
Lǎng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình là công trình chủ thể, được gắn kết với khu di tích Phủ Chủ tịch, Khu Trung ương Đảng, Nhà Quốc hội, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Đài tưởng niệm tạo thành một trung tâm chính trị, lịch sử, văn hóa của cả nước./.

Hà Nội, 01-10-2010, ngày bắt đầu Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội.
Viết tặng riêng ngày sinh nhật bạn đời của tôi: Vũ Thái Hòa tròn 61 tuổi.

Advertisements