ĐỌC ẢNH HÀ NỘI XƯA CÙNG NHÀ SỬ HỌC DƯƠNG TRUNG QUỐC. 3- SINH HOẠT

CÁI YẾM

Có thể nói cùng với tà áo dài tứ thân, cái yếm là thứ trang phục phổ biến nhất của phụ nữ người Việt xưa. Một vuông vải hay lụa và mấy sợi dây đính vào mép ở những chỗ cần thiết đủ để che chắn bộ ngực mà tất cả phần còn lại của nửa trên thân thể đều phơi lộ vừa gợi cảm vừa thoáng mát trong những ngày hè. Còn vào mùa đông thì nó như cái áo lót tăng cường giữ ấm ngực được phủ ngoài là tấm áo cánh trước khi thêm những lớp áo chống rét khác.

Ở phố Hàng Đào chuyên buôn bán vải lụa, có hẳn một ngôi đình mang tên “Đồng Lạc quyến yếm thị” của cộng đồng những người buôn bán loại trang phục này. Hình ảnh trong thơ của Hồ Xuân Hương vẽ nên cảnh thiếu nữ ngủ “yếm đào trễ xuống dưới nương long” cho thấy cái chất phóng khoáng và hồn nhiên của người phụ nữ không muốn bị trói buộc bởi những lễ giáo trưởng giả.
Yếm trở thành thứ trang phục thích hợp đối với mọi hạng người và một thời nó đã tưởng như biến mất bởi những trang phục ngoại nhập, nay lại thấy phục hồi và thấy thiên hạ cũng có xu hướng mặc… “yếm Tây”.

DTQ

NGƯỜI HÀ NỘI XƯA ĐỘI NÓN THẾ NÀO?

Thức đội để che nắng che mưa trên đầu của người Việt Nam phổ biến nhất là cái khăn vải và cái nón lá. Ngoài các loại mũ đội trong trang phục triều chính của vua và các quan, hay mũ tế của các chức sắc quan viên trong làng thì cả đàn ông và đàn bà trong dân gian đều vấn khăn hay đội nón.
Riêng cái nón bằng lá lợp trên khung tre, đã nhẹ lại che nắng che mưa rất tiện dụng. Nón phân làm rất nhiều loại, nhưng quy vào 2 loại chính đó là nón quai thao và nón chóp.
* Đội nón.
Nón quai thao với vành rộng hình tròn ở giữa có đai đội khít vòng đầu và một cái quai rất dài không thít vào cằm mà có thể dùng tay để giữ. Quai dùng bằng vải hay lụa màu với nhiều lối trang trí cùng với tư thế tay giữ quai khiến cho người phụ nữ nhà quyền quý đội nón quai thao trở nên duyên dáng. Còn người phụ nữ bình dân thì khi lao động thít chặt quai khiến cái nón vững chãi che cả một khoảng rộng từ khuôn mặt đến đôi vai khỏi nắng mưa.* Người quyền quý với chiếc nón chóp bọc đồng.* Người dân quê chồng đội nón chóp, vợ đội nón quai thao.
Đến nay cái nón quai thao gần như không còn trong đời sống thường dụng mà chỉ còn trên sân khấu trình diễn như một chứng tích truyền thống. Chỉ còn cái nón hình chóp đến nay vẫn còn phổ biến chẳng cần mô tả.
Nhưng có điều đáng nói là xưa kia, đàn bà đội nón quai thao là đương nhiên, nhưng cái nón chóp thì lại chỉ có đàn ông đội. Điều này được chứng minh rất rõ trong các tấm ảnh chụp cho đến đầu thế kỷ XX.. * Cắp nón* Ngả nón.
Cái nón hình chóp mà người đàn ông Việt Nam đội có nhiều loại khác nhau tuỳ theo thân phận người sử dụng. Các nhà quyền quý nón không lớn, có khi còn lợp vài và trên chóp bọc đồng hay bạc. Trong các sắc lính thời phong kiến và ngay trong thời thuộc địa vẫn còn sử dụng khá phổ biến.
Cái nón quai thao thì còn tồn tại ở nông thôn cho đến giữa thế kỷ XX, nhưng không rõ cái nón chóp chuyển sang đầu người phụ nữ từ khi nào để đến nay cùng với tà áo dài nó gần như không thể thiếu được trong trang phục “kinh điển” của phụ nữ Việt Nam?

DTQ

TÓC ĐUÔI GÀ

“Bỏ tóc đuôi gà” là cách nói của người xưa trong lối trang điểm bộ tóc của phụ nữ đã trưởng thành. Câu thành ngữ “Cái răng, cái tóc là góc con người” cho thấy người xưa quan tâm đến bộ phận này của cơ thể như thế nào.
Muốn “bỏ tóc đuôi gà” thì phải vấn khăn, nghĩa là bọc mớ tóc của mình trong vải, hoặc sang trọng là nhung the rồi quấn quanh đầu một cách ngay ngắn. Phần đuôi tóc lộ ra ngoài làm sao khi vấn khéo léo để nó tạo thành một “cầu vồng” uốn cong lên mà không bị buông thõng xuống. Tạo được hình tượng cái đuôi gà trên mái tóc của mình tạo ra nét kiêu kỳ và vẻ thanh tao của người phụ nữ. Chữ “bỏ” không hiểu theo nghĩa là “bỏ đi” mà là “bỏ xuống”, một các nói nhằm nhấn mạnh đến vẻ tự nhiên của mái tóc.

* Thiếu nữ Hà Nội với tóc đuôi gà.
Nhưng muốn “bỏ đuôi gà” thì trước hết phải có mái tóc “khoẻ”, tức là mượt và dài hơn độ cuốn vòng trên đầu. Với những người tóc ngắn và thưa, các bà, các chị dùng một cái lõi bằng vải nhồi bông dài như một con lươn để độn và nối thêm bằng một lụn tóc giả nhưng phải cuốn thật khéo để cái “đuôi” gà lộ vẻ như tự nhiên (tóc thật). Đây thực sự là một nghệ thuật.
* Cút tóc trên đầu con trẻ đi bán hoa bèo Nhật.
Ngày nay trong trang điểm sân khấu hay điện ảnh cái tóc đuôi gà thường làm cẩu thả buông thõng xuống làm mất đi vẻ đẹp kiêu sang mà lối vấn tóc này mang lại cho gương mặt người phụ nữ “cổ điển”. Vả lại, ngày nay không còn mấy người vấn khăn và càng ít người biết đến lối “bỏ đuôi gà” của người xưa.
Mấy tấm ảnh kèm theo nhằm minh hoạ cho nhận xét của một nhà văn danh tiếng sống vào đầu thế kỷ XX về cách để tóc của nữ giới nước ta. Đây là các hình ảnh được in trên các tấm bưu thiếp đương thời. Riêng chân dung một thiếu nữ “bỏ tóc đuôi gà” đặt trong hình ôvan là trích ra từ bức ảnh gia đình có niên đại chụp là năm 1921. Đó cũng là chân dung người bác ruột của người đọc ảnh.
Tóc đuôi gà
* Chân dung người bác ruột của người đọc ảnh
Trong sách “Nhớ gì ghi nấy”, nhà văn Nguyễn Công Hoan chép : “Trước kia con gái lên ba, lên bốn thì đầu cạo trọc, nhưng để một cái “cút” ở phía trước. Từ mười sáu tuổi trở đi, thì vấn khăn. Tức rẽ giữa trán rồi trải sang hai bên mới vấn khăn ra ngoài, quấn chặt cho thật lẳn. Khăn chít một vòng quanh đầu. Nên tóc ít hoặc ngắn thì phải độn thêm cho vành khăn khỏi bé. Hoặc độn bằng món tóc khác, hoặc bằng vải quấn chặt. Chỗ tóc thừa ở đầu khăn, khi chít thì rủ xuống vai, gọi là đuôi gà. Đuôi gà làm cho người đẹp thêm và để người ngoài biết mình là “tóc tốt”, khoẻ mạnh. “Một thương bỏ tóc đuôi gà”. Nếu tóc ngắn, không có đuôi gà thì các cô mượn tóc ngoài để nối vào tóc mình, làm “đuôi gà giả”.

DTQ

TỤC ĐỂ MÓNG TAY DÀI, QUAN NIỆM QUYỀN QUÝ XƯA

Quan niệm của người xưa về sự quyền quý, cao sang là người không phải “động chân, động tay”, tức là mọi việc năng nhọc đều sai khiến người khác. Lao động chân tay bị coi là công việc thấp hèn. Cộng với quan niệm của một số nho sĩ cho rằng, thân thể mình là do tạo hoá và cha mẹ ban cho, do vậy phải gìn giữ tất thảy cái gì có thể gìn giữ được.* Ông lang thuốc.
Do vậy mà nảy sinh một tục của giới mày râu là để móng tay dài, không cắt ngắn. Những móng tay để dài đến mức nó cuộn tròn khiến bàn tay khó có thể cầm nắm hoặc làm việc gì nặng nhọc là cách thể hiện quan niệm và địa vị của mình. Đương nhiên vì không thể tuyệt đối không sử dụng bàn tay, nên thông thường người ta chỉ để móng tay của bàn tay trái, còn bàn tay phải thì ít nhất cũng phải dùng để cầm cây bút hay một vài sinh hoạt cá nhân.* Và ông quan.* đều coi để móng tay dài là quyền quý.
Có lẽ trong con mắt của người Âu, một bàn tay như vậy có vẻ “kỳ dị” nên nó được đưa vào bưu ảnh: một ông quan và một ông lang thuốc. Với những quan niệm mới về cái đẹp, phép vệ sinh và lối sống hiện đại, tục để móng tay dài được nhìn như môt hủ tục và gần như mất hẳn…

DTQ

Advertisements