ĐỌC ẢNH HÀ NỘI XƯA CÙNG NHÀ SỬ HỌC DƯƠNG TRUNG QUỐC. 1- KIẾN TRÚC CÔNG TRÌNH.

KIẾN TRÚC VIỆT: Ảnh Hà Nội xưa KIẾN TRÚC VIỆT sưu tầm cũng đã nhiều, nhưng để đọc được nội dung những bức ảnh cho chuẩn xác, chỉ có nhà sử học Dương Trung Quốc mà thôi. Nhân dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, ngoài tư liệu của DTQ KIẾN TRÚC VIỆT cũng sẽ giới thiệu những bức ảnh khác để Bộ sưu tập Hà Nội xưa phong phú và đầy đủ hơn. Để dễ theo dõi, KIẾN TRÚC VIỆT chia làm 3 phần: 1- Kiến trúc công trình. 2- Phố phường cổ.3- sinh hoạt.

KHU NHƯỢNG ĐỊA ĐỒN THỦY[/SIZE]
* Quân Pháp xây kè sau những vụ lở đất và xây các toà nhà làm quân y viện (nay là Bệnh viện Việt Xô).
Trước năm 1888, người Pháp chỉ được lưu trú trong khu vực xưa kia là nơi đồn trú của một đơn vị quân đội của triều đình kiểm soát sự đi lại trên sông Hồng. Vì thế nơi này có tên gọi là “Đồn Thuỷ”.
Đó là kết quả của những vụ khiêu khích dẫn đến xung đột giữa các đạo quân Pháp từ Sài Gòn kéo ra, lúc đầu đồi mượn đường để ngược Sông Hồng xâm nhập vào Tây Nam Trung Quốc. Tiếp đó là tấn công chiếm thành Hà Nội dẫn đến cái chết của Tổng đốc Hoàng Diệu, buộc Triều đình Huế phải ký hoà ước trong đó có dành một vùng đất nhượng địa cho đạo quân chiếm đóng trú chân, đổi lại là việc trao trả thành Hà Nội (1873).

Tại đây, quân Pháp đã xây dựng những công trình dân sự và quân sự để biến đây làm bàn đạp xâm nhập vào Hà Nội bằng ngoại giao và vũ lực. Nhiều công trình được xây dựng tạo nên một không gian kiến trúc kiểu Pháp đầu tiên ở Hà Nội.
Sau khi đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 dẫn đến cái chết của Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, từng bước cả Bắc Kỳ biến thành đất bảo hộ và quân Pháp mở rộng nhượng địa ra cả khu vực Thành phố Hà Nội (1888). Khu Đồn Thuỷ vẫn tồn tại như cơ sở hậu cần và quân y viện cho đạo quân chiếm đóng lâu dài.
* Những công trình xây dựng ở Đồn Thủy, nhìn từ sông vào.* Từ Đồn Thuỷ, khu phố Pháp lan ra khu vực nay là đường Phạm Ngũ Lão.

DTQ

CHÙA QUAN THƯỢNG VÀ THÁP HÒA PHONG
* Thực dân Pháp phá chùa để làm Nhà Bưu điện, nay chỉ còn lại tháp Hòa Phong.
Mô tả của André Masson trong sách “Hà Nội giai đoạn 1873 – 1888” viết: “Ở phía Đông Nam hồ, nay là Sở Bưu điện, sừng sững ngôi chùa đặc biệt nhất trong các chùa Hà Nội.
Toà nhà chính của chùa được bao bởi một hồ tròn đầy sen, chính hồ này cho chùa cái tên Liên Trì (Fleurs de Lotus). Chùa còn được gọi là “Chùa Nguyễn Đăng Giai” để kỷ niệm viên tổng đốc, người đã cho xây chùa vào những năm đầu tiên vua Thiệu Trị (1841)…

Người Pháp đổi tên thành “Chùa Khổ hình” (Pagode des Supplices) vì người ta thấy khắc trên đá và gỗ ở chùa hàng loạt khổ hình những kẻ có tội phải chịu ở thế giới bên kia…” (Cảnh Thập điện Diêm vương).
* Tòa nhà chính của chùa được bao quanh bằng một hồ tròn đầy sen nên chùa có tên là Liên Trì.
Ban đầu chùa bị quân Pháp sử dụng để đồn trú sau đó quyết định phá bỏ hoàn toàn để xây dựng nhà bưu điện, Phủ Thống sứ, chỉ để lại Tháp Hoà Phong trơ trọi bên Hồ Gươm.
Năm 1884, Bác sĩ Hocquard còn chụp được nhiều bức hình của ngôi chùa này còn khá nguyên vẹn và tại Bảo tàng Guimet ở Paris còn lưu giữ được nhiều tượng Phật bằng gỗ của ngôi chùa này đã bị lưu lạc sau khi bị phá.
Còn tấm ảnh chụp Tháp Hoà Phong cho thấy Hồ Gươm xưa đã bị người Pháp lấp và thu hẹp lại như hiện nay.
* Toàn cảnh chùa. Hiện nay còn lại tháp Hòa Phong ở ngoài cùng sát mép nước.* Ảnh tháp Hòa Phong xưa cho thấy Hồ Gươm đã bị thu hẹp như thế nào.

DTQ

ĐẤU XẢO HÀ NỘI[/SIZE]

Tuy nhiên chỉ cần đọc dòng chú thích cho tấm bưu ảnh có số thứ tự 2004 của bộ sưu tập do Nhà Bưu ảnh Dieulefils phát hành ta có thể định vị được không gian, thời gian và tên gọi sự kiện: “Bắc Kỳ – Đấu Xảo Hà Nội 1902”.
* Tấm bưu ảnh định vị không gian và thời gian của "Bắc Kỳ – Đấu Xảo Hà Nội 1902”.
Bạn còn có thể đọc được trên nhật ấn đóng trên con tem dòng chữ “Nam Định” và dòng lưu bút của ai đó đã để lại chữ ký là ngày ký “16-6-06” .
“Đấu xảo” là một cách gọi tên của cái mà ngày nay chúng ta thường dịch từ chữ “exposition" là “triển lãm”. Đấu Xảo được hiểu như một cuộc trưng bày có sự ganh đua về sự “tinh xảo” của các sản phẩm.

Với Đông Dương hồi đầu thế kỷ thì sản vật của xứ sở này chủ yếu là nông, lâm sản, hai sản và thủ công nghiệp. Các cuộc “đấu xảo” được tổ chức tại Hà Nội từ cuối thế kỷ XIX, nhưng cuộc “Đấu Xảo-1902” được coi là đặc săc nhất không chỉ là sự kiện diễn ra vào đầu thế kỷ mới (XX) mà năm đó còn diễn ra một sự kiên trọng đại là khánh thành chiếc cầu thép khổng lồ bắc qua sông Hồng nối đường xe lửa từ Hải Phòng đến Hà Nội và ngược lên phía bắc để tới vùng Vân Nam của Trung Quốc.
nha-dau-xao.jpg
Đặc sắc của cuộc Đấu Xảo này là nó được trưng bày tại một công trình kiến trúc mà tấm ảnh cho thấy quy mô và vẻ đẹp của nó được coi là điểm nhấn đặc sắc nhất ở Hà Nội vào thời điểm 10 năm trước khi Nhà Hát Lớn Thành phố được khai trương (1911). Toà nhà do kiến trúc sư Bussy thiết kế . Còn cuộc Đấu xảo năm 1902 được khánh thành vào ngày 16-11-1902.
Toà nhà này sau đó được chuyển giao để thành lập một bảo tàng kinh tế đầu tiên và lớn nhất Đông Dương (Bảo tàng mang tên Maurice Long) toạ lạc ở không gian nay là Cung Văn hoá Lao Động Hà Nội nằm trên đường Trần Hưng Đạo và kề nhà Ga Hà Nội. Toà kiến trúc đã biến mất sau trận ném bom của máy bay Đồng Minh (Mỹ) vào thời kỳ phát xít Nhật đang chiếm đóng nước ta trong thời Đê nhị Thế chiến. Hai bức tượng đồng là phần duy nhất không bị bom đạn huỷ hoại.

DTQ

doanducthanh sưu tầm bổ sung:
*Vị trí.* Nhìn tổng thể.* Cổng vào.* Tòa nhà chính.* Tòa nhà chính.

SÂN QUẦN NGỰA HÀ NỘI

Trường đua ngựa mà nhiều người hay gọi tắt hơn là Quần ngựa ở Hà Nội có từ rất sớm. Cuốn “Le Vieux Tokin” (Bắc kỳ xưa) cho biết cuộc đua ngựa đầu tiên ở Hà Nội diễn ra ngày 15/7/1886 trong khuôn khổ những hoạt động mừng Quốc khánh Mẫu quốc năm ấy của đạo quân chiếm đóng và phải 2 năm sau (1888) Tourane (Đà Nẵng) và Nam Định mới có nơi đua ngựa…
Hình như cuộc thi đầu tiên diễn ra dưới chân Cột Cờ Hà Nội và lại có cả thi “người-ngựa” tức là kéo xe tay. Còn năm 1888 thì có tài liệu viết rằng có một lần còn tổ chức cả đua… với nhưng bị đánh giá là kém hấp dẫn vì sự chậm chạp của 3 con vật khổng lồ thạm gia dưới sự chỉ huy của những quản tượng bản xứ.
Về sau các cuộc thi đuợc tổ chức thường xuyên hơn ở khu vực thôn Yên Tập , tức là khu Ga Hàng Cỏ vốn là nơi cấp thức ăn cho ngựa của triều đình xưa. Để xây dựng khu đầu mối đường sắt và đấu xảo thì quần ngựa chuyển về thôn Đại Từ và Vĩnh Phúc (nằm giữa đường Đội Cấn và Hoàng Hoa Thám hiện tại).

Nhìn kỹ từng tấm hình có thể thấy quần ngựa có những đổi thay ở khu khán đài. Buổi đầu còn có cả khách đứng trên nóc khán đài, về sau khán đài ngày một cầu kỳ và sang trọng hơn. Đương nhiên số đông khán giả là người Âu (trên khán đài) nhưng công chúng người Việt cũng đã có mặt không ít quanh sân. Và để phục vụ cho thú chơi này cũng xuất hiện nhiều “lò” nuôi ngựa đua nhập từ nước ngoài vào và loại ngựa bản địa được lai tạo giống từ Trại Nước Hai trên Cao Bằng.
Sau những biến cố xảy ra năm 1945, chiến tranh đã khiến các cuộc đua ngựa ở Hà Nội chấm dứt. Cái không gian rộng lớn của Quần ngựa ấy vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX đã có dự định sử dụng làm mặt bằng để xây nhà Quốc hội. Nhưng rồi lại chiến tranh phá hoại lan tới Thủ đô (1966), việc xây nhà Quốc hội bị dừng lại, đến nay khó ai nhận ra dấu tích của Quần ngựa xưa lọt thỏm trong một khu dân cư đông đúc thuộc quận Ba Đình.

DTQ

CHÙA LÁNG

Chưa rõ vì sao trong các bưu ảnh của người Pháp chụp ngôi chùa cổ của làng Yên Lãng Thượng lại mang tên là “Chùa các bà” (Pagode des Dames)? Còn tên chữ của ngôi cổ tự này là “Chiêu Thiền Tự” thờ Phật nhưng thờ cả các vị chân tu là sư Từ Lộ (tức Từ Đạo Hạnh) và vua Lý Thần Tông (1127-1138).
Ngôi Chùa với một tam quan rất độc đáo được che phủ bởi những hàng cây cổ thụ rợp bóng mát và một toà phương đình bát giác giữa sân chùa, tạo nên một cảnh quan cổ tích quy tụ các hội của các làng nằm ven bờ sông Tô làm nên một vùng văn hoá làng quê ven đô của kinh thành.

* Tam quan ngoại.
* Tam quan nội và phương đình bát giác.
Những đám rước trong ngày hội hàng năm mở vào ngày 7 tháng ba âm lịch diễn lại các tích truyện xưa với nhiều nghi thức tín ngưỡng và trò chơi dân gian. Đây luôn là một điểm thu hút không chỉ cư dân của các làng quê mà còn cuốn hút cả các thị dân trong nội thành đến chia hưởng thú vui của cả một vùng quê trù phú nằm ở phía Tây Nam Thăng Long xưa, nay đã nằm trọn trong nội thành Hà Nội.

DTQ

THÁI HÀ ẤP GẮN VỚI HOÀNG CAO KHẢI

Ấp Thái Hà gắn với tên tuổi của chủ nhân là một nhân vật rất có thế lực nhờ sự cộng tác với người Pháp. Đó là Kinh lược Hoàng Cao Khải , đỗ cử nhân năm 23 tuổi (1868) được bổ làm tri huyện Huyện Thọ Xương, một trong 2 huyện của tỉnh thành Hà Nội.
Nhân vật này lần lượt đảm nhận nhiều chức vụ ngày càng cao để rồi trở thành người có quyền lực cao nhất của Nam triều ở Bắc Kỳ.
* Cầu và cổng vào khu sinh từ
* Toàn cảnh phần trung tâm lăng cổng vào khu sinh từ
* Khu mộ với cấy cột để đặt tượng kiểu như tượng Lê Thái Tổ bên Hồ Gươm.
Kinh lược họ Hoàng cũng là người có nhiều ý tưởng canh tân đời sống thôn quê và vào tháng 11/1893, những ý tưởng ấy được thể hiện trong việc biến một vùng đất trũng ở phía Tây Nam Hà Nội thành một ấp mang tên “Thái Hà” (là sự kết hợp địa danh quê hương Đông Thái, Nghệ An với Hà Nội) tạo ra một mô hình quy hoạch khá mới mẻ tại vùng giáp ranh đô thị.
Chính tại đây, Hoàng Cao Khải đã xây một “sinh từ” với một quần thể kiến trúc khá độc đáo mà đáng tiếc đến nay không còn lại bao nhiêu dấu tích bởi sự bỏ hoang sau những biến cố chính trị và làn sóng đô thị tràn ngập.

DTQ

TƯỢNG TOÀN QUYỀN LƯỠNG KỲ PAUL BERT

Paul Bert là quan chức dân sự đầu tiên được bổ nhiệm vào cương vị Toàn quyền Lưỡng kỳ ( Bắc và Trung kỳ). Được bổ nhiệm vào tháng 1/1886, đến Hà Nội vào tháng 4 nhưng đến tháng 11 năm đó thì Paul Bert đã chết vì dịch bệnh.
* Chân dung Paul Bert.
Thực dân coi Paul Bert như người tổ chức lại thuộc địa và quy hoạch trước khi vua Đồng Khánh trao Hà Nội cho Pháp làm nhượng địa (1888). Do vậy Paul Bert đuợc tôn vinh bằng cách đặt tên phố, tên trường và đúc tượng.
Tượng đồng đặt tại khu đất trống cạnh Toà thị chính bên Hồ Gươm, đã có lúc được dùng làm nơi hành quyết các nghĩa sĩ Việt Nam yêu nước.
Vuờn hoa đuợc quy hoạch và bức tượng đồng đúc từ Pháp bằng ngân sách chính quyền cùng sự đóng góp của vua Đồng Khánh và một số quan lại Việt Nam đã được dựng tại đây.

Bức tượng toàn thân của Paul Bert tay cầm lá cờ tam tài của Pháp và một người bản xứ nhỏ bé ngồi dưới chân mắt ngước lên đã tạo nên nhiều dư luận chỉ trích.
Tượng này đã bị giật đổ ngay sau ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945)… cuối cùng rồi cũng bị nấu chảy để góp đồng đúc tượng Phật ở Ngũ Xã.
* Bức tượng Paul Bert đặt trong khuôn viên của một vườn hoa cùng tên gọi.
* Bức tượng nằm kề bên Tòa thị chính Hà Nội.
* Ngôi trường này hiên nay mang tên Trưng Vương ở phố Hàng Bài, ban đầu mang tên Trường Paul Be.

DTQ

TÒA ĐỐC LÝ[/SIZE]

Không gian giới hạn bởi các phố Garnier (Đinh Tiên Hoàng), Balny (Trần Nguyên Hãn), Courbet (Lý Thái Tổ) và Dominé (Lê Lai) trên đó có chùa Phổ Giác được sử dụng để xây Toà thị thính (còn gọi là Toà Đốc lý) cơ quan hành chính của Hà Nội, Kho bạc, Nhà Xéc (Cercle) nơi quy tụ giới thượng lưu sinh hoạt giải trí và cả Nhà Lục xì (nơi kiểm tra y tế gái làng chơi trong thành phố). Không gian hình chữ nhật liền kề là vườn hoa và tiếp theo là không gian xây dựng Bưu điện, Phủ Thống sứ…* Cổng Tòa Thị chính sau này.
Toà Đốc lý hoàn thành năm 1887 có kiến trúc cổ điển phù hợp với chức năng hành chính một thành phố với các cơ quan thuế quan, giao thông công chính, địa chính, hộ tịch… với hai cổng hướng về Bờ Hồ và Vườn hoa Paul Bert (nay là Vườn hoa Lý Thái Tổ). Sau này có một số thay đổi về kiến trúc với tên gọi là Toà Thị chính.
* Tòa Đốc lý: Cửa phía Hồ* Tòa Đốc lý: Cửa phía vườn hoa

DTQ

CẦU GIẤY

Ở cửa phía Tây của Thành Thăng Long xưa – đoạn đi về phía Sơn Tây – có một cửa ô tên gọi là Tây Dương. Phía ngoài cửa ô ấy có một nhánh nhỏ của sông Tô Lịch. Tại đây có chiếc cầu gạch bắc qua sông.
* Cầu nằm ở phía Tây thủ đô, bắc qua nhánh nhỏ sông Tô Lịch. Ảnh chụp năm 1883.
Gần kề chiếc cầu gạch ấy có một cái chợ chuyên bán giấy do làng Hạ Yên Quyết (làng Cót) làm ra. Vì thế, chiếc cầu được gọi là Cầu Giấy (Pont de Papier). Cầu xây bằng gạch, trong ảnh (chụp năm 1883) trông thật cổ kính và yên bình.
* Gần kề chiếc cầu này có chợ chuyên bán giấy do làng Hạ Yên Quyết (làng Cót) làm.
Nhưng Cầu Giấy nổi tiếng hơn hết là nhờ 2 trận đánh cách nhau 10 năm giữa quân Pháp và quân Cờ Đen, dẫn đến cái chết của hai viên chỉ huy Pháp là Francis Garnier (21/12/1873) và Henri Rivière(19/5/1883).
* Mộ của viên sĩ quan Pháp.
Mộ của hai viên sĩ quan Pháp này chôn ngay gần Cầu Giấy nhưng cách đây chừng nửa thế kỷ, nó đã được di rời về Pháp. Còn cái cầu gạch thì không rõ bị phá lúc nào.
* Mộ của viên sĩ quan Pháp.
Ngày nay khu vực Cầu Giấy là một nút giao thông cửa ngõ đi vào trung tâm Hà Nội từ phía Tây.

DTQ

RẠP CHIẾU BÓNG ĐẦU TIÊN CỦA HÀ NỘI XƯA

Nếu hiểu điện ảnh là chớp bóng hay chiếu xi-nê-ma (ciméma), muốn tìm cái nơi đầu tiên tổ chức loại giải trí mới mẻ do anh em nhà Lumière phát minh, không thể không nói đến những gì diễn ra tại Khách sạn Métropole (ngày nay vẫn giữ được tên gốc, cộng thêm thương hiệu “Sofitel”).
Tại đây, đã lặp lại cái công thức điện ảnh ra mắt tại Paris bắt đầu bằng những buổi chiếu phim tại Hotel Grand Café rồi dần dần mới ra rạp chuyên cinéma.
Lật lại chồng báo cũ, tờ “Trung Bắc Tân văn” xuất bản ở Hà Nội hồi đầu thế kỷ XX, người ta thấy quảng cáo cho buổi chớp bóng đầu tiên cũng tại một “Grand Café” nhưng rất nhỏ bé, tại cái khách sạn được coi là sớm nhất và sang trọng nhất của Hà Nội, nằm giữa không gian được coi là Tây nhất trong cái “nhượng địa” của Tây này.
* Tại phố Nguyễn Xí, có một cái cổng nhỏ đi vào một rạp chiếu phim lấy tên là Palace.
Bộ phim đầu tiên có tên là “Thần Cọp” và được trình chiếu vào 8/1920. Đương nhiên khi đó còn là phim câm nhưng người tổ chức đã làm theo cách bên chính quốc là mời dàn nhạc đệm, chỉ có điều ở đây lúc đầu là một gánh bát âm hoàn toàn bản xứ. Nội dung của phim được đăng trước trên báo thành từng phân cảnh và người đến xem sẽ nhận được một tờ chương trình (programe) tóm tắt nội dung.
Về sau, khi nhu cầu xem cinéma dần đông, nội dung phim ngày càng phong phú, chỗ chiếu phim chuyển sang bên kia đường nay là phố Nguyễn Xí. Ở đó, có một cái cổng nhỏ đi vào một rạp chiếu phim lấy tên là Palace. Chỉ mới đây, khi toà nhà này chưa bị phá, người ta còn đọc được cái tên rạp ấy ở phía trên bức tường.
Tuy nhiên, phòng chiếu phim này rộng xuyên sang cả phía đường Paul Bert (nay là Tràng Tiền) nổi tiếng đô hội, là nơi sinh hoạt của người Âu và của những người bản xứ giàu có muốn học đòi Tây. Chẳng bao lâu, “Cinéma Palace” trở nên rạp chiếu phim sang trọng nhất Hà Nội trên đường Paul Bert.
Nó có một mặt tiền (facade) thật đẹp tựa cái vỏ con sò cách điệu. Bạn đọc kỹ mấy tấm bích chương (affiches) dựng trước cửa rạp thì biết được rằng lúc này có một loại phim thời thượng xoay quanh một nhân vật hài hước người Tàu tên là Toufou, vào thời điểm chụp tấm ảnh này thì rạp đang chiếu tích “Toufou lấy vợ”…
Thời thực dân Pháp tạm chiếm Hà Nội (1947-1954), rạp này đổi tên là “Eden”(Thiên đường). Người chủ mới không biết muốn tỏ ra khác trước hay vì trào lưu kiến trúc tân kỳ mà đem “bưng” cái mặt tiền khả ái này bằng những tấm gỗ dán vuông thành sắc cạnh để đến nỗi mọi người quên bẵng diện mạo kiến trúc ban đầu, ngay cả khi nó đã được đổi thành rạp chiếu bóng “Công nhân” rồi sàn diễn chuyên nghiệp của Đoàn kịch nói Hà Nội.
Cho đến ngày người ta quyết phá nó đi để xây một tòa kiến trúc mới, thì khi bóc cái vỏ gỗ dán, đã hiện ra cái vẻ đẹp ban đầu gây sốc cho nhiều người. Nhưng chủ đầu tư vội cho phá nhanh kẻo dư luận đòi giữ lại thì hỏng mất dự án đã được cấp tiền ngân sách…?
Một toà nhà mới theo lối thời thượng “đá rửa” do thợ từ miền Trung ra trình diễn đã được xây theo thiết kế hiện đại nhưng chẳng đẹp tí nào, tồn tại thêm gần hai thập kỷ và cũng chỉ để diễn kịch nói. Cho đến trước dịp Hà Nội ngàn năm tuổi (2009) nó lại được phá tận móng để xây mới, với cam kết rằng toà nhà mới sẽ trở lại những nét đẹp xưa trong một ngôn ngữ kiến trúc hiện đại. Chỉ có điều nó vẫn không thể trở lại một rạp cinéma thuần tuý như buổi ban đầu.

DTQ

RẠP CHIẾU BÓNG PATHÉ CẠNH ĐỀN BÀ KIỆU[/SIZE]

Nếu như rạp chiếu bóng lớn nhất và cũng tồn tại tương đối lâu bền nhất là Rạp Palace trên đường Paul Bert (nay là rạp Công nhân trên phố Tràng Tiền), chuyên chiếu các bộ phim do Hãng Gaumont sản xuất, thì sau đó không lâu, một rạp chuyên chiếu phim của Hãng Pathé cũng xuất hiện tại khu đất trống bên cạnh đền Bà Kiệu, trước cửa đền Ngọc Sơn.
Sự xuất hiện rạp chiếu mới này chứng tỏ cuộc cạnh tranh giữa 2 hãng phim hàng đầu của Pháp hồi đó ở bên chính quốc cũng lan sang thuộc địa là nước ta.

* Rạp Pathé nằm ở khu đất trống cạnh đền Bà Kiệu, trước mặt đền Ngọc Sơn.
Rạp chiếu này, kiến trúc có vẻ xuềnh xoàng tựa một rạp diễn kịch hay hoà nhạc hơn là chiếu phim. Đúng tại địa điểm ấy, những cuộc trình diễn đầu tiên các môn nghệ thuật phương Tây như hoà nhạc, diễn kịch và các tiết mục tạp kỹ phục vụ cộng đồng người Âu (chủ yếu là binh lính và công chức của bộ máy chiếm đóng) đã diễn ra trong những khung nhà đơn sơ…
Hồi đó, nơi này được gọi là Rạp Chùa Bút. Dần dà, các rạp hát được xây dựng, ngay gần đây có một toà nhà khá đẹp của Hội khuyến nhạc (Philarmonique), rồi tại đầu đường Paul Bert là Nhà Hát Lớn hoành tráng… Không gian ấy được chuyển thành một rạp chiếu bóng cạnh tranh với Palace bằng cách chiếu phim của đối thủ Gaumont là Hãng Pathé. Và người ta đã kẻ tên biển của Hãng phim ấy là tên rạp.
Một thời gian sau, không chỉ có phim Pháp mà còn có phim của nhiều nước khác nhập về nên rạp không còn chuyên chiếu cho Pathé nữa. Rạp đổi tên là “Variété” (tạm dịch là Vạn Hoa hay Biến Hoá).
Nằm ngay bên lề đường gần tuyến xe điện, lại bị vây quanh là các nơi thờ cúng tôn giáo, vì thế rạp chiếu phim này có vẻ không còn thích hợp với cảnh quan. Rồi không biết vì lý do kinh doanh hay quy hoạch của thành phố mà nó bị dỡ bỏ.
Tại không gian này năm 1943, chính quyền Pháp ở Hà Nội và Hội Truyền bá Quốc ngữ đã dựng môt nhà bia, trong đó đặt bài văn bia “tam ngữ” (Hán-Quốc ngữ, Pháp) tôn vinh ông cố đạo Alexandre De Rodhes là “ông tổ chữ quốc ngữ”. Sau 1954, tấm bia và nhà bia đều bị phá, một thời gian sau đặt tượng “Cảm tử để Tổ quốc quyết sinh” cho đến nay.

DTQ

NHÀ THỜ LỚN HÀ NỘI, CÔNG TRÌNH ÍT THAY ĐỔI NHẤT

Nếu chọn một công trình kiến trúc nào xưa nhất, lại ít thay đổi nhất của Hà Nội còn lại cho đến nay thì đó chính là Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Nhà Thờ Lớn được khởi công vào năm 1884 và khánh thành kịp vào dịp Lễ Thiên Chúa giáng sinh năm 1887. Kể từ đó cho đến nay, kiến trúc dường như không thay đổi. Xem các tấm hình cách đây đã trên dưới một thế kỷ thì thấy rõ điều ấy. Có chăng là sự thay đổi cảnh quan và con người mà thôi.

* Nhà Thờ Lớn Hà Nội khánh thành vào năm 1887.
Trung tâm Thiên Chúa giáo của khu vực xưa kia không ở Hà Nội mà ở Kẻ Sở. Còn ở khu vực cận kề Nhà Thờ Lớn trước đó chỉ có một nhà nguyện nhỏ xây gạch lợp lá, thầy giảng phải từ Kẻ Sở cách đó 20km lên Hà Nội chăn dắt con chiên.
Tháng 5/1883, quân Cờ Đen đánh vào Hà Nội đốt cháy ngôi nhà ấy. Năm 1887, cố đạo Puginier dùng ảnh hưởng của mình được Tuần phủ Hà Nội hợp thức hoá khu đất vốn là nền tháp và ngôi chùa Báo Thiên rất nổi tiếng được xây từ thời Lý – Trần nay đã đổ nát thành phế tích, để xây nhà thờ đạo Thiên Chúa.
* Vẫn còn nguyên vẹn cho tới tận ngày hôm nay.
Nhờ cuộc xổ số năm 1884 thu đuợc 10 vạn đồng, Nhà thờ Thánh Joseph đã được khởi công ngay trong năm đó và được xây dựng như diện mạo ngày nay và được khánh thành ngày 23/12/1887, một ngày trước dịp Thiên Chúa giáng sinh.
Vào thời đó, ngoài Cột Cờ được xây từ đầu thế kỷ XIX, thì đây là kiến trúc cao nhất lừng lững gần Hồ Hoàn Kiếm và tạo một không gian tôn giáo xung quanh một vùng đất vốn là một ngôi chùa Phật giáo nổi tiếng cùng Phủ Chúa đã hoàn toàn bị triệt hạ khi vị Chúa cuối cùng của nhà Trịnh bị nhà Tây Sơn tiêu diệt vào cuối thế kỷ XVIII.
Những tấm ảnh Nhà Thờ Lớn đuợc chụp vào những thời điểm khác nhau càng cho thấy cái nhận xét ở trên là đúng. Ta có thể thấy những thành phần xã hội khác nhau từ kẻ giàu đến người nghèo, người Tây hoặc người Ta, những chiếc xe kéo và ôtô…
Và ta còn hình dung được trên thinh không của Hà Nội, kể từ đó không chỉ có tiếng chuông chùa gióng giả mà lại có cả tiếng chuông nhà thờ từ trên tháp cao đổ hồi vào những giờ nguyện của người theo Đạo.
Và xung quanh kiến trúc này còn có cả một cộng đồng tín đồ Thiên Chúa giáo xum vầy dọc 2 con phố Nhà Thờ và Nhà Chung. Vào những ngày lễ trọng, đặc biệt là trong đêm Thiên Chúa Giáng sinh, đó là nơi hội tụ không chỉ của giáo dân. Không gian tôn nghiêm dưới bóng những tháp chuông và cảnh quan gần kề Hồ Gươm đã biến nơi đây thành một địa chỉ du lịch của Thủ đô, nhất là với khách nước ngoài.

DTQ

THÁP NƯỚC HÀNG ĐẬU – TRĂM NĂM DÂU BỂ[/SIZE]

Tại ngã sáu, nơi giao nhau của nhiều đường phố: Hàng Than, Quán Thánh, Phan Đình Phùng, Hàng Lược, Hàng Giấy và Hàng Đậu có một công trình xây dựng khá độc đáo, lúc nào cũng đóng cửa kín mít.
Tường của công trình này xây bằng đá hộc, những chấn song sắt và những vòm cửa sổ, cùng cái mái tôn của một toà tháp cao tới 25 mét tính đến chóp, gây cảm giác nặng nề như chốn ngục thất đầy bí ẩn.
Nhưng thực ra đó chỉ là một tháp nước (chateau-d’eau) trong kết cấu của hệ thống cung cấp nước cho đô thị được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX. Có lẽ do trục đường huyết mạch từ cầu Doumer (Long Biên) trực chỉ vào khu thành cổ là nơi đóng binh và đầu não bộ máy cai trị của người Pháp, nên người ta quen gọi đây là “tháp nước Hàng Đậu”.

* Tháp nước Hà Nội.
Cuối thế kỷ XIX, dân số Hà Nội trong đó có một cộng đồng người Âu khá đông đảo đang đòi hỏi được cung cấp nước sạch, lại gặp mấy trận dịch nặng nề đến nỗi người đại diện cho nước Pháp đứng đầu ở xứ sở này là ông Tổng trú sứ Paul Bert cũng lâm bệnh mà chết, khiến người Pháp phải hoàn thiện hệ thống cấp nước sạch theo lối châu Âu, thay vì nguồn nước giếng, nước mưa hay nước ao, hồ đánh phèn theo kiểu dân gian.
* Tháp nước xưa trong tương quan với khu vực xung quanh.
Vào năm 1894, hai nhà máy nước đã được xây dựng: Một ở phía Yên Phụ chuyên cũng cấp cho khu Thành cổ – lúc này là nơi tập trung quan chức và binh lính người Âu cùng với khu dân cư “36 phố phường”; một nhà máy nữa ở Đồn Thuỷ – lúc này đã được chuyển thành bệnh viện và một vài công sở của người Âu từ vùng đất nhượng địa lan dần ra phía Tràng Tiền và quanh Hồ Gươm.
Vì thế, ngoài Tháp nuớc Hàng Đậu còn có tháp Đồn Thuỷ, nhưng hiện tại nằm sâu ở cuối phố Đinh Công Tráng, ít người biết đến.
Vì phải chịu tải trọng của một khối nước có dung tích tới 1.250 m3 nước (tương đương 1.250 tấn) chứa trong một bể bằng thép đặt ở trên cao (mép sát nóc 21m) nên toà nhà phải rất kiến cố với những bức tường đá xây theo vòng tròn, bức ngoài cùng có đuờng kính dài tới 19m và hệ thống tường chịu lực hỗ trợ, thông nhau bởi những vòm cửa. Đá tảng dùng để xây được lấy từ đá hộc dỡ của thành cổ do cô Tư Hồng thầu phá.
Chính nhờ những tháp nước này mà mộ bộ phận cư dân lớp trên được hưởng thụ “nước máy”. Nước từ độ cao của Tháp có áp lực chảy vào hệ thống đường ống dẫn, ban đầu chủ yếu tới những vòi nước máy công cộng đúc bằng gang đặt rải rác trên các đường phố, rồi dần dần vươn tới các công thự và nhà riêng.
Một thời gian dài, 2 tháp nước này đã đáp ứng về căn bản nhu cầu nước cho cư dân nội thành Hà Nội cho đến khi Hà Nội phát triển áp dụng những công nghệ mới, khiến 2 khối kiến trúc này không còn đảm nhiệm công năng ban đầu là tháp nước nữa. Riêng Tháp Hàng Đậu, do vị trí đắc địa của nó nên đến nay vẫn sừng sững như một nhân chứng già nua nhưng vẫn tạo nên ấn tượng về sự cổ xưa của Hà Nội.

DTQ

TRƯỜNG BẢO HỘ[/SIZE]

Từ đây đã sản sinh ra những tên tuổi như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Võ Nguyên Giáp, Ngô Gia Tự, Phạm Văn Đồng…
Lời chú trên góc tấm bưu ảnh mang mã số 3043 của Sưu tập Dieulefils dịch ra tiếng Việt là: “Xứ Bắc Kỳ – Hà Nội – Trường Bảo hộ gần Hồ Tây” chính là Trường Bưởi. Tên gọi rất phổ biến nhưng chưa bao giờ mang tinh chính thức ấy bắt nguồn từ mảnh đất mà ngôi trường đã tọa lạc trên một vùng đất cổ, vốn có cái tên nôm là “ Kẻ Bưởi” (thuộc làng Thuỵ Chương, đến thời Tự Đức đổi thành Thuỵ Khuê).

* Tấm bưu ảnh Trường Bảo hộ.
Nó ra đời theo một quyết định của Toàn quyền Đông Dương Klobukovski ký ngày 9/12/1908, trên cơ sở sáp nhập các trường Thông ngôn, Nam sư phạm Hà Nội và Jules Ferry Nam Định, để trở thành trường trung học lớn nhất dành cho nam sinh ở Bắc Kỳ, bên cạnh Lycée Albert Sarraut dành cho người Pháp và tầng lớp trên.
Cái tên chính thức “Trường trung học Bảo hộ” (Collègue du Protectorat) cho thấy mục tiêu của nền giáo dục đương thời nhằm đào tạo nhân lực cho chế độ thuộc địa, nhưng đấy cũng là nguồn đào tạo trí thức tân học của người Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX. Từ đây đã sản sinh ra những tên tuổi như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Võ Nguyên Giáp, Ngô Gia Tự, Phạm Văn Đồng…
Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, Khâm sai Bắc bộ Phan Kế Toại thời Chính phủ Trần Trọng Kim đã ra quyết định ngày 12/6/1945 đổi tên thành “Trường Chu Văn An” và được giữ cho đến ngày nay, tạo nên truyền thống của một ngôi trường bậc trung học danh tiếng nhất, có tuổi đời cao nhất của Hà Nội. Năm 2008, nhà trường đã long trọng kỷ niệm tròn 100 năm tuổi (1908-2008).
Những bộ cánh cổ điển nhưng rất Việt Nam của cả thầy và trò đứng trước cổng trường, xen lẫn với bộ âu phục rất “thuộc địa” của một người Pháp, cùng với hàng rào còn sơ sài ấn định thời gian chụp bức ảnh này cách đây đã rất lâu. Toà nhà trong ảnh đến nay vẫn được giữ nguyên như một mẫu mực về kiến trúc trường sở. Người Pháp đã đầu tư vào ngôi trường này một cơ sở vật chất được coi là hoàn hảo.
Đến nay, những tòa kiến trúc cũ về căn bản vẫn còn giữ được nguyên vẹn, tuy có được sửa sang lại. Nhiều lớp thày trò đã dạy và học tại đây, nhiều thế hệ đã đi qua, nhiều người đã khuất bóng. Chỉ còn những những cây xà cừ trong ảnh vẫn còn và đến nay đã to cao hơn nhiều. Chúng như những nhân chứng của thời gian, toả bóng râm mát cho các thế hệ tiếp nối nhau giữ vững truyền thống của một ngôi trường tiêu biểu bên bờ Hồ Tây của Thủ đô Hà Nội.

DTQ

CỘT ĐỒNG HỒ


* Chiếc đồng hồ đặt trên cái cột gang tựa như những cột đèn khá phổ biến đương thời.
Đương nhiên đồng hồ là để mọi người qua lại xem giờ, nhưng chiếc đồng hồ đặt ở chỗ đó dường như còn để lưu dấu rằng trước khi có cây cầu, tại không gian này từng có một cái đồng hồ cũng đặt trên một cái cột bằng gang, chỉ có điều như ta thấy trong ảnh, nó hình tròn. Nơi đó, ngày xưa mang địa danh “Cột Đồng Hồ”, dù không chính thức ghi trong bản đồ nhưng nói ra, người Hà Nội nào cũng biết.
Hồi xưa, đồng hồ còn là vật dụng hiếm quý nên Hà Nội chỉ có dăm cái đồng hồ công cộng để báo giờ cho dân chúng: Một đặt trên nóc Hãng Godard (sau là Bách hoá Tổng hợp, nay là Hanoi Plaza), một nữa đặt trên nóc Hãng Anpo chuyên bán đồng hồ ở ngã năm Cửa Nam, đương nhiên còn phải kể đến cái đồng hồ gắn ở mặt tiền Nhà Thờ Lớn… Chỉ duy nhất có một cái đồng hồ đặt chơ vơ giữa một khoảng không gian rộng và trên một cái cột gang, tựa như những cột đèn khá phổ biến đương thời.
Khi chưa có cầu Chương Dương, đây là một khoảng đất rộng kề bên một trục đường rất quan trọng của Hà Nội hồi mới thành hình một đô thị kiểu Âu Tây. Đó là con đường chạy dọc sông Hồng và điểm rẽ vào khu phố cũ của người bản xứ.
Hồi đó, sông Hồng chưa có đê nên bên dòng sông là những bến tàu thuyền khá sầm uất , trong đó có bền tàu của Hãng Giang Hải Bạch Thái Công ty của ông Vua đường sông Bắc Kỳ Bạch Thái Bưởi. Và ngay kề bên cái cột đồng hồ về phía phố Hàng Tre bây giờ, chính là toà trụ sở của Hãng. Đồng hồ đặt ở đây chính là để phục vụ cho những khách lên bến xuống thuyền coi giờ cho khỏi lỡ chuyến. Vì vậy bao quanh còn có các bến xe ôtô hay các loại phương tiện thô sơ do người kéo.
Từ sau vụ lụt năm 1925-1926, chính quyền khi đó mới đắp con đê chạy dọc sông và mở những cửa khẩu đi ra ngoài các bến bãi. Kể từ đó, quanh Cột Đồng Hồ không còn sầm uất nữa, dần trở nên hoang vắng. Cái địa danh “Cột Đồng Hồ” dần trở thành điểm hẹn của giới giang hồ, nơi diễn ra những vụ thanh toán nhau lẫn nhau. “Rủ nhau ra Cột Đồng Hồ” trở thành …lời thách đấu.

DTQ

LÝ DO HƯỚNG ĐI CẦU LONG BIÊN KHÔNG THEO BÊN LỀ PHẢI[/SIZE]

Cầu Doumer, nay gọi là Cầu Long Biên khai thông từ năm 1902. Nhưng thưở đầu, mối quan tâm của nhà đầu tư chưa phải ưu tiên giành cho Hà Nội mà tuyến đường sắt chạy từ Cảng Hải Phòng chỉ vượt con Sông Cái (hay Sông Hồng) để đi thẳng lên Vân Nam xâm nhập vào thị trường vùng Tây Nam của cái quốc gia khổng lồ mà tất cả các đế quốc Âu Tây đang mong ước đựợc dự “bữa cỗ Trung Hoa”.
Vì thế, hai bên cầu chỉ có con đường hẹp cho người đi bộ và đầu mối cho khách đi xe lửa chỉ có Ga Hàng Cỏ. Nhưng chính cây cầu khổng lồ này lại có tác động trực tiếp khiến Hà Nội phát triển, dân cư đông đúc và nhu cầu đi lại bằng xe lửa trong nước ngày càng lớn.

* Vị trí nhà ga nhằm ưu tiên số đông khách cùng hàng hoá.
Đến năm 1923, chính quyền thuộc địa mới khai thông con đường được mở rộng hai bên cầu cho ôtô qua lại và Cty Hoả xa Đông Dương mới “trổ” thêm một nhà ga ở ngay đầu cầu phía Nam, nơi đó lại cũng rất gần các bến tàu sông và ôtô (Bến Nứa) và chỉ đi một đoạn nắn là vào khu Chợ Đồng Xuân sầm uất.
Đây cũng là một trong những lý do (giả thiết) liên quan đến hiện tượng hướng lên xuống cầu Long Biên của các phương tiện giao thông lại ngược với luật lệ thông thường là theo lề bên phải. Từ Hà Nội lên cầu bên trái theo hướng thẳng từ Hàng Đậu lên, còn hướng từ Gia Lâm sang cũng theo lề bên trái xuống dốc phía sát Hàng Khoai..
* Ga Đầu Cầu tuy nhỏ nhưng đẹp và tiện lợi cho khách nhờ có 2 lối lên.
Vị trí nhà ga góp phần để ưu tiên số đông khách cùng hàng hoá đi xuống cầu là rẽ thẳng vào khu chợ Đồng Xuân hoặc vòng ra bến ô tô (nay là chợ Long Biên) hoặc theo dọc đường Bờ Sông (nay là Trần Nhật Duật) để xuống tàu sông tại các bến rải rác đến Cột Đông hồ (nay là vị trí cầu Chương Dương) cho tới Phà Đen.
Thiết kế đơn giản và vững chãi khiến nhà Ga Đầu Cầu tuy nhỏ nhưng đẹp và tiện lợi cho khách nhờ có 2 lối lên: hoặc theo dốc cho xe cộ xuống cầu ở phía Hàng Khoai, hoặc leo những bậc thang dốc xuống thẳng phố Duranton (nay là Nguyễn Thiệp). Bây giờ nhà Ga vẫn còn nhưng kiến trúc cảnh quan lộn xộn đã mất đi vẻ đẹp vốn có.

DTQ
(Sưu tầm bưu ảnh của P.Chapplaine và NMHùng)

doanducthanh sưu tập bổ sung:
* Cầu Long Biên * Cầu Long Biên năm 1905.

Advertisements