LĂNG TỰ ĐỨC – GIẦU CHẤT VĂN HÓA, CAO ĐẠO, CAO ĐỜI.

Bài và ảnh: ĐOÀN ĐỨC THÀNH
Tự Đức (1829-1883) là con thứ hai của vua Thiệu Trị, trị vì 36 năm (1847-1883) lâu nhất trong 13 đời vua nhà Nguyễn. Ông lên ngôi trong bối cảnh đất nước khó khăn nhiều bề, giặc ngoại xâm tấn công, anh em giành nhau ngôi báu, các cuộc nổi loạn dấy lên khắp nơi, đê vỡ, nhân dân đói kém đời sống khó khăn. Tự Đức là ông vua yêu nước, sống vì dân, thương dân, song lực bất tòng tâm, lại không làm được nhiều cho dân như ý nguyện, nên nỗi lòng của ông luôn day dứt, buồn phiền. * Hồ Lưu Khiêm lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.
Do bị căn bệnh đậu mùa từ nhỏ nên ông không có con, mặc dầu chung sống với 103 bà vợ. Vua Tự Đức hiền lành, có hiếu, ham học, ham hiểu biết, hay chữ, đề cao nho học, yêu văn thơ, ông để lại cho đời gần 5000 bài thơ chữ Hán và chữ nôm. Song thể chất vốn yếu đuối, bệnh tật, bi quan, bất lực, sống nội tâm, mơ mộng, điều này phần nào phản ánh trung thực phong cách kiến trúc trong lăng tẩm do ông chỉ đạo thiết kế cho ông, cả lúc ông đang sống và khi qua đời.
* KTS Đoàn Đức Thành bên các bạn người Nga tại lăng Tự Đức.

* Cửa Vụ Khiêm lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Xung khiêm Tạ, lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Dũ Khiêm Tạ, lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.
Bước qua cửa Vụ Khiêm, không khỏi sửng sốt trước một tầm nhìn rộng mở sinh động, giàu chất nhân văn, chất thơ. Một con đường lát gạch Bát Tràng đỏ au ven theo lan can bên hồ uốn lượn mềm mại trong mỗi bước đi. Xung quanh là những bóng cây cổ thụ cổ kính râm mát, cây đại hoa trắng muốt ngan ngát hương thơm. Bên dưới là hồ sen xanh lá xen trong đó là những đóa sen hồng sen trắng đẹp như gấm, ngào ngạt hương thơm quyến rũ. Phía trên hồ là mây trời màu xanh màu trắng bồng bềnh trôi. Thi thoảng hương trầm hòa trộn vào hương hoa, lại thêm tiếng chim hót, bướm vàng bướm trắng bay lượn chập chờn cho ta cảm giác con người như lạc vào một cõi thần tiên, chứ không nghĩ rằng đang ở trong không gian lăng tẩm thiêng liêng. Con đường dẫn dắt đến Dũ Khiêm Tạ (bến thuyền) nhìn sang Xung Khiêm Tạ nơi vua đọc sách, làm thơ, câu cá, ngắm hoa ở bên kia cầu Tiễn Khiêm. Xa xa là đồi thông cổ thụ thẳng đứng tỏa bóng xuống những nếp nhà cổ kính, sơn thủy hữu tình.
Năm 1864, vua Tự Đức xây dựng khu lăng tẩm cho mình như một hành cung thứ hai, gọi là Khiêm Cung, sau khi ông qua đời đổi là Khiêm Lăng. Lăng Tự Đức nằm trong một không gian bao la, song lại bó gọn trong một vòng La thành hình trái tim mà ông ngầm ấp ủ dâng trọn vẹn những gì tinh hoa nhất cho đời.
La thành rộng 12 ha, bao gồm khu điện thờ (khu sinh hoạt của vua khi còn sống) và khu bia mộ đặt ở gần kề nhau ở trên cấp nền cao. Hai khu có nội dung tách biệt cùng song song hướng ra hồ Lưu Khiêm làm Minh Đường, núi Giáng Khiêm phía trước làm tiền án, núi Dương Xuân ở phía sau làm Hậu chẩm. Nhìn tổng thể, khu lăng bố cục như một công viên, dưới thấp có hồ nước, cầu đảo, nhà thủy tạ, đường dạo mềm mại, xen trong cây mọc lên từ mặt nước, thảm cỏ nên thơ. Thoạt nhìn, tưởng khu lăng tẩm bố cục tự do, cũng có phần đúng bởi ông đã để thiên nhiên chi phối phần lớn diện tích. Chỉ một khu đất vừa phải dành cho lăng và điện thờ, song lại đặt ở trung tâm khu đất, ở vị trí cao ráo và đẹp nhất, cùng song song hướng trục nhìn về hướng Đông. * Khiêm Cung Môn – tam quan dẫn vào khu cung điện lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Hòa Khiêm Điện, lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Lương Khiêm Điện, lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.
Từ Xung Khiêm Tạ rẽ trái bước lên một cấp thang 15 bậc dài rộng bằng đá thanh đến một sân lát gạch Bát Tràng rộng rãi. Từ đây rẽ phải sang khu mộ vua gồm sân chầu, Bi Đình, hồ Tiểu Khiêm và Mộ vua xây dựng bằng gạch đá kiên cố. Từ sân gạch bước lên thêm một cấp thang 15 bậc nữa dẫn đến Khiêm Cung Môn, một tam quan hai tầng ở trên một thế đất cao nổi bật trên nền trời. Qua tam quan dẫn đến khu cung điện bao gồm hàng chục tòa ngang dẫy dọc. Nổi bật ở trục trung tâm là Hòa Khiêm Điện (nơi vua làm việc, sau này là nơi thờ cung vua và hoàng hậu) và Lương Khiêm Điện (nơi vua nghỉ của vua, sau này là nơi thờ mẹ vua). Hai bên có Lễ Khiêm Vu, Pháp Khiêm Vu dành cho quan văn quan võ theo hầu. Minh Khiêm Đường được coi là hát cổ nhất nước ta. Ôn Khiêm Đường, Chí Khiêm Đường và Y Khiêm Viện và Trì Khiêm Viện là chỗ cất giữ đồ đạc và là nơi ở của cung tần mỹ nữ theo hầu vua. Hầu hết các công trình ở Khiêm Cung đều xây dựng bằng gỗ, sơn son thiếp vàng, nội thất trang trí nhiều tranh đẹp.* Cổng vào lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Sân chầu trước Bi Đình, lăng Tự Đức. Ảnh: Đoàn Đức Thành.* Mộ của vua Tự Đức khiêm nhường. Ảnh: Đoàn Đức Thành.
Khu lăng mộ có sân chầu phía trước, hai bên có voi ngựa và quan hầu tạc bằng đá xanh. Bi Đình có tấm bia bằng đá Thanh nặng 20 tấn khắc bài “Khiêm Cung Ký” do nhà vua soạn thảo. Cũng vì vua Tự Đức không có con nối dõi nên đã viết bài văn bia này thay cho bia “Thánh đức thần công” như trong các lăng trước đó. Văn bia có 4.935 từ kể công và nhận tội trước lịch sử. Tiếp sau tấm bia là hai trụ biểu vươn lên trời cao. Sau Bi Đình và trước Mộ có hồ Tiểu Khiêm hình trăng non đựng nước mưa để linh hồn vua rửa tội. Mộ vua nhỏ, khiêm nhường, ốp đá giản dị.
Ngày nay nhìn vào lăng tẩm vua Tự Đức ta thấy toát lên một con người giầu văn hóa, cao đạo, cao đời.

Hà Nội – Huế, tháng 7-2010.

Advertisements