NAM KỲ LỤC TỈNH

Nam Kỳ Lục Tỉnh, theo Gia Định Thành Thông Chí thì năm 1834 vua Minh Mạng đã chia Nam Kỳ thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh. Đó là các tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Định Tường ở miền Đông; Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên ở miền Tây.* Cổng vào thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ảnh: Đoàn Đức Thành.

Gia Định ban đầu chỉ là cái tên để chỉ vùng lãnh thổ nhỏ ở phía nam vào năm 1698, sau mở rộng dần đến năm 1779 thì được dùng để chỉ toàn bộ vùng Nam phần (ngày nay). Từ năm 1802, khi lên ngôi, vua Gia Long nhà Nguyễn đã đặt ra Gia Định Trấn để cai quản vùng lãnh thổ từ Bình Thuận trở vào, gồm 5 trấn. Năm 1808 đã được đổi tên là Gia Định Thành. Đứng đầu đơn vị hành chính này là một chức quan Lưu Trấn, sau 1808 đổi thành Tổng trấn. Vị Tổng trấn nổi tiếng nhất của Gia Định Thành là Ông Lê Văn Duyệt. Tên Gia Định Thành cho đến năm 1832, sau khi Lê Văn Duyệt mất và vua Minh Mạng quyết định bải bỏ Gia Định Thành.
Nam Kỳ là tên gọi từ năm 1832, dùng để chỉ vùng lãnh thổ thuộc quyền cai quản của Gia Định Thành trước kia. Do vua Minh Mạng chia vùng lãnh thổ này thành 6 tỉnh trực tiếp đặt dưới quyền cai quản của triều đình, nên nó còn có tên gọi là Nam Kỳ Lục tỉnh. Sau khi chiếm được Nam Kỳ, người Pháp thường sử dụng tên gọi Cochinchine để chỉ vùng này.
Cũng được biết Nam Kỳ còn có danh xưng Nam Kỳ quốc được người Pháp dùng để chỉ một quốc gia do họ lập nên vào năm 1946. Tuy nhiên, quốc gia này chỉ tồn tại trên danh nghĩa cho đến năm 1948.
Sau cuộc đảo chính Pháp tại Đông Dương năm 1945, quân đội Nhật đã tuyên bố trao lại quyền độc lập cho Việt Nam. Song song với việc thành lập chính phủ, vua Bảo Đại cũng cho phân vùng lãnh thổ Việt Nam thành 3 khu vực hành chánh, và đặt các quan Khâm sai thay mặt nhà vua để cai quản từng vùng. Nam Bộ là khu vực tương ứng với Nam Kỳ cũ.
Tên gọi Nam Phần ra đời vào khoảng năm 1948, sau khi chính phủ Nam Kỳ quốc giải tán, và chính phủ lâm thời Nam phần Việt Nam được thành lập. Sau khi chính phủ Pháp và cựu hoàng Bảo Đại ký thỏa ước thành lập Quốc gia Việt Nam, theo đó lãnh thổ Việt Nam được phân thành 3 đơn vị hành chính cấp Phần, là một cấp cao hơn tỉnh, đứng đầu là một Thủ hiến do Quốc trưởng chỉ định. Vùng lãnh thổ Nam Phần tương ứng với vùng lãnh thổ của Nam Bộ vào năm 1945.
Theo sắc lệnh số 143-A/TTP của Phủ Tổng thống VNCH ngày 23/10/1956 đã quy định gọi Bắc Việt, Trung Việt, Nam Việt tương ứng là Bắc Phần, Trung Phần, Nam Phần.
Sự hình thành các tỉnh của miền Nam:
– Năm 1876 : Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chánh (circonscript ion administrative), mỗi khu vực lại được chia thành nhiều địa hạt (arrondissement) như sau :
– Khu vực Saigon có 5 địa hạt : Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa, Gia Định
– Khu vực Mỹ Tho có 4 địa hạt : MỹTho, Gò Công, Tân An, Chợ Lớn
– Khu vực Vĩnh Long có 4 địa hạt : Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh, Sa Đéc
– Khu vực Bassac có 6 địa hạt : Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sốc Trăng
– Năm 1882 : Địa hạt Bạc Liêu được thành lập gồm 2 tổng của Sóc Trăng và 3 tổng của Rạch Giá. Như vậy tới năm nầy, Nam Kỳ có 20 địa hạt
– Năm 1895 : Cap Saint-Jacques được tách ra khỏi Bà Rịa để trở nên thị xã tự trị (commune autonome)
– Năm 1899 : Địa hạt được đổi thành tỉnh, và từ đây Nam Kỳ có 20 tỉnh : Cần Thơ, Bạc Liêu, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Trà Vinh, Vĩnh Long , Sa Đéc, Bến Tre, Long Xuyên ,Tân An, Sóc Trăng, Thủ Dầu Một, Tây Ninh, Biên Hòa ,Mỹ Tho, Bà Rịa, Gò Công, Gia Định.
– Năm 1929 : Cap Saint-Jacques trở thành một tỉnh.
– Năm 1956 : Chánh phủ của nền Đệ Nhất Cộng Hòa tổ chức Nam Phần thành 22 tỉnh và Đô Thành Saigon. Nhiều tỉnh được đổi tên, nhiều tỉnh mới được thành lập : Bình Tuy (Hàm Tâm), Phước Long, Bình Long, Bình Dương, Long Khánh, Phước Tuy (Bà Rịa-Vũng Tàu), Long An (Tân An), Định Tường (Mỹ Tho), Kiến Hòa (Bến Tre), Kiến Phong, Kiến Tường (Mộc Hóa), An Giang, Kiên Giang (Rạch Giá), Ba Xuyên, An Xuyên, Phong Dinh (Cần Thơ), Vĩnh Bình (Trà Vinh).
– Năm 1961 : Tỉnh Chương Thiện được thành lập (gồm một phần đất của Ba Xuyên, Kiên Giang, và Phong Dinh)
– Năm 1963 : Thêm tỉnh Hậu Nghĩa (gồm một phần đất của Long An, Gia Định và Tây Ninh)
Trước ngày 30 tháng 4, Nam Phần có 27 tỉnh và Đô Thành Saigon. Tên gọi các tỉnh của Nam Kỳ Lục Tỉnh bắt nguồn điển tích này :

“Khoái mã gia biên vĩnh định an hà” (Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước). Do đó, các tỉnh có tên : Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. (Theo Trịnh Hoài Đức, Nam Bộ xưa và nay).
Những cư dân sinh sống trên vùng đất Nam Kỳ Lục Tỉnh là những di dân từ Miền Bắc và Miền Trung theo chân chúa Nguyển Hoàng vào Nam sau khi Trịnh Kiểm, một bộ tướng cũng là con rể của Nguyễn Kim, có âm mưu soán nghịch. Và từ đó trong lịch sử ghi thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh lấy sông Gianh làm biên giới. Với địa thế Nam Kỳ đất rộng phì nhiêu, thiên nhiên giàu có, di dân Việt lai tạo với các sắc dân khác như Tây, Tàu, Miên, Chàm, Mã Lai… v.v. đã làm nên cái chất đặc thù Nam Bộ mà ít nơi nào có : Hào sảng, phong lưu, trọng tình nghĩa, bộc trực và… đôi khi rất buông thả vô lo… với các truyện truyền kỳ “Công Tử”. Dường như, người Nam Bộ không có năng khiếu về chính trị, không bon chen, cạnh tranh, tánh tình hào sảng kiểu Lục Vân Tiên cho nên ngoài việc giàu có rộng rãi… chẳng có mấy ai nên danh phận trên con đường hoạn lộ công danh.

Lê Bình
(Theo: Văn nghệ người Sài Gòn)

Advertisements